kinhthanh

TRANG CHỦ li-category CHÚ GIẢI LỜI CHÚA li-category SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA CHÚA NHẬT V MÙA CHAY NĂM A - LM. INHAXIÔ HỒ THÔNG

CHÚA NHẬT V MÙA CHAY
Cả ba Bài Đọc Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật V Mùa Chay hôm nay đều nói về sự sống lại, về đời sống mới.
Ed 37: 12-14
Qua một thị kiến về những bộ xương khô, ngôn sứ Ê-dê-ki-en loan báo cho những người lưu đày ở Ba-by-lon biết rằng sẽ đến ngày Thiên Chúa ra tay giải thoát họ, và cuộc giải thoát này sẽ được sánh ví như cuộc tái sinh.
Rm 8: 8-11
Trong Bài Đọc II, thánh Phao-lô công bố: “Nếu Thánh Thần của Đấng đã làm cho Đức Giê-su Ki-tô từ cõi chết sống lại ở trong anh em, thì Đấng đã làm cho Đức Giê-su Ki-tô từ cõi chết sống lại cũng cho xác phàm hay chết của anh em được sống”.
Ga 11: 1-45
Trong Tin Mừng, Đức Giê-su nói với cô Mác-ta: “Thầy là sự sống lại và là sự sống”, và Ngài cho anh La-za-rô sống lại sau khi anh đã được mai táng trong mồ bốn ngày rồi.
BÀI ĐỌC I (Ed 37: 12-14)
Ngôn sứ Ê-dê-ki-en là vị ngôn sứ thứ ba trong bốn Đại Ngôn Sứ và là dung mạo vĩ đại nhất của Do Thái Giáo trong suốt thời lưu đày, vì thế được gọi là “cha của Do thái giáo”. Ông là vị ngôn sứ duy nhất trong số các ngôn sứ đã lãnh nhận ơn gọi ngôn sứ ngoài đất Ít-ra-en, ở Ba-by-lon. Ông kết hợp mật thiết tinh thần tư tế và tinh thần ngôn sứ. Ông bày tỏ cho thấy tài năng của một nhà thị kiến.
Ê-dê-ki-en đã trải qua những thời điểm khủng khiếp nhất, đó là thành thánh Giê-ru-sa-lem bị đạo quân Ba-by-lon xâm chiếm vào năm 598. Ông thuộc vào đoàn người đầu tiên bị dẫn đi lưu đày. Ông sống trong cảnh lưu đày ở một thị trấn nhỏ, không xa Ba-by-lon, được gọi là Tel-Aviv (tên mà quốc gia Do thái hiện nay đặt cho thủ đô của họ để tưởng nhớ đến vị ngôn sứ nầy, người đã tiên báo “sự phục sinh” của dân Ít-ra-en) và ông đã qua đời ở đó vào năm 571.
1.Bố cục :
Ngôn sứ Ê-dê-ki-en đã lên án những bất trung của dân Chúa và loan báo sự trừng phạt sẽ giáng xuống trên Giê-ru-sa-lem. Nhưng khi những bất hạnh bất ngờ xảy đến, vị ngôn sứ loan báo thời kỳ Thiên Chúa xót thương. Thiên Chúa sẽ khai đường mở lối cho đoàn người lưu đày được trở về quê cha đất tổ. Cuộc giải thoát nầy sẽ như một cuộc tái sinh, một cuộc tạo dựng mới. Lời văn đầy những hình ảnh.
2.Thung lũng đầy xương cốt:
Trong thị kiến, vị ngôn sứ được đưa vào một thung lũng đầy những bộ xương khô (37: 1-2). Lúc đó, Thiên Chúa phán với ông: “Hỡi con người, các xương đó chính là toàn thể nhà Ít-ra-en. Nầy chúng vẫn nói: ‘Xương cốt chúng tôi đã khô, hy vọng của chúng tôi đã tiêu tan, chúng tôi đã rồi đời’. Chính vì thế, ngươi hãy tuyên sấm, hãy nói với chúng: ‘Thiên Chúa là Chúa Thượng phán như sau: ‘Hỡi dân Ta, Ta sắp mở huyệt cho các ngươi. Ta sẽ đem các ngươi lên khỏi đó, và đưa ngươi về đất Ít-ra-en” (37: 11-12).
Những người lưu đày được sánh ví với những bộ xương khô, niềm hy vọng đã tiêu tan: “Xương cốt chúng tôi đã khô, hy vọng của chúng tôi đã tiêu tan, chúng tôi đã rồi đời rồi”. Thiên Chúa hứa sẽ vực họ dậy, sẽ tái sinh họ. Vị ngôn sứ thấy “bộ xương khô đã có gân, thịt đã mọc lên và da đã trải ra ở bên trên, nhưng thần khí chưa có ở nơi chúng” (37: 8).
3.Thần khí phục hồi sự sống:
“Ta sẽ đặt thần khí của Ta vào trong các ngươi, và các ngươi sẽ được sống. Bấy giờ các ngươi sẽ biết rằng Ta là Đức Chúa, Ta đã nói là Ta làm”. Trong một sấm ngôn trước đó, vị ngôn sứ đã tuyên sấm bằng những lời lẽ tương tự: “Ta sẽ ban tặng cho các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt thần khí mới vào lòng các ngươi. Ta sẽ bỏ đi quả tim bằng đá khỏi thân mình các ngươi và sẽ ban tặng các ngươi một quả tim bằng thịt. Chính thần trí của Ta, Ta sẽ đặt vào lòng các ngươi, Ta sẽ làm cho các ngươi đi theo thánh chỉ, tuân giữ các phán quyết của Ta và đem ra thi hành” (36: 26-27). Thần khí Chúa đổi mới tận căn cõi lòng của con người. Trong đoạn văn được trích dẫn hôm nay, ý nghĩa thì khác: thần khí Chúa là hơi thở sáng tạo hay tái tạo, đem lại niềm hy vọng cho những kẻ lưu đày bất hạnh, có thể nói, hoàn lại cuộc sống cho họ.
Vào thời đại này, chúng ta không nên thấy ở đây lời loan báo về sự phục sinh thân xác. Một quan niệm như thế không thể nào nghĩ tưởng được vào lúc đó. Sau nầy, chúng ta thoáng thấy cũng một cách thức như vậy trong sách Gióp (thế kỷ V hay IV tCN). Sẽ phải chờ đợi đến thời kỳ Ma-ca-bê (giữa thế kỷ hai tCN) khi đó niềm hy vọng vào sự phục sinh thân xác được phát biểu một cách rõ nét. Niềm hy vọng nầy đã nâng đỡ các vị tử đạo khi các ngài phải chịu các cực hình: “Vua là một tên hung thần, vua khai trừ chúng tôi ra khỏi cuộc đời hiện tại, nhưng bởi lẽ chúng tôi chết vì Luật pháp của vua vũ trụ, nên Người sẽ cho chúng tôi sống lại để hưởng sự sống đời đời” (2Mcb 7: 9).
Louis Monloubou mời gọi mỗi người tín hữu hãy đọc lại thị kiến này vào trong lịch sử cuộc đời mình để khám phá sự hiện diện cứu độ của Thiên Chúa trong cuộc đời mình: “Ngày nay, cũng như thường trong dòng lịch sử của mình, và nhất là vào thời ngôn sứ Ê-dê-ki-en, dân Thiên Chúa bận lòng về tương lai của mình, cuộc sống của mình. Ngày nay, cũng như vào thời lưu đày Ba-by-lon, ngôn sứ Ê-dê-ki-en nhắc đi nhắc lại rằng Thiên Chúa luôn luôn có đủ khả năng hoàn lại cuộc sống, phục sinh cộng đoàn tín hữu của Người, cho dù họ đang sống trong cảnh đời tuyệt vọng đi nữa.
Ngày nay, cũng như vào thời ngôn sứ Ê-dê-ki-en, thần khí Thiên Chúa hoạt động ở trong lòng dân chúng, có thể ban cho họ sự sống, phục sinh họ.
Ngày nay dân Thiên Chúa phải kinh qua những giải thoát mà Thiên Chúa thực hiện trong lịch sử của cuộc đời mình, thậm chí trong chính thân xác của mình; ngõ hầu họ hiểu hơn, và rốt cuộc hiểu hơn ai thực sự là Thiên Chúa của mình, đối tượng niềm tin của mình không là một bóng ma nào đó, nhưng Đức Chúa, Đấng Cứu Độ.
Cuối cùng ngày nay, Thiên Chúa chúng ta luôn luôn là Thiên Chúa nói với dân Ngài, khuyến khích họ, ở bên cạnh họ, như bạn đồng hành thân thiết, Đấng cứu độ trung tín và có hiệu quả”.                                               
BÀI ĐỌC II (Rm 8: 8-11)
 Trong thư gởi tín hữu Rô-ma, thánh Phao-lô họa nên một bức tranh tăm tối về nhân loại tội lỗi không thể tự sức mình giải thoát mình khỏi tội lỗi, vì thế cần phải đặt trọn niềm tin tưởng vào sự can thiệp của Thiên Chúa. Sau đó, thánh nhân mô tả đầy cảm xúc về cuộc sống mới của người Ki-tô hữu: cuộc sống trong ân sủng, nghĩa là cuộc sống được Thần Khí tác động chứ không còn chịu xác thịt chi phối nữa. Đoạn văn hôm nay được trích từ chương 8, chương dâng hiến một sự bình an và niềm vui.
1.Xác thịt và Thần Khí:
Thánh Phao-lô thích vận dụng những cặp đối nghịch: luật và đức tin, xác thịt và thần khí, con người cũ và con người mới, chế độ lề luật và chế độ ân sủng, vân vân.
Thánh nhân cho từ ngữ “xác thịt” một nét nghĩa tiêu cực không được gặp thấy trong Cựu Ước. Qua từ ngữ xác thịt, Thánh Kinh chỉ toàn bộ con người được sáng tạo bởi Thiên Chúa, vì thế, xác thịt thực chất không thể nào là xấu được. Ngôi Lời sẽ đảm nhận xác thịt và “làm người”. Khi ngôn sứ Ê-dê-ki-en loan báo rằng Thiên Chúa sẽ ban tặng cho Ít-ra-en “một trái tim bằng thịt thay cho trái tim bằng đá” ông ban cho từ ngữ “xác thịt” tất cả sự cao quý của nó. Chắc chắn ở nơi nhân tính có một khía cạnh địa giới mà từ ngữ xác thịt gợi lên, do đó đối lập với thiên giới, thế giới thần linh.
Trong cặp đối nghịch xác thịt-thần khí của mình, thánh nhân được gợi hứng từ cặp đối nghịch: địa giới-thiên giới, theo quan niệm mang đậm nét Do thái, chứ không theo quan niệm nhị nguyên Hy lạp: thân xác-linh hồn; tuy nhiên, thánh nhân xem bản tính địa giới là bản tính xấu, được ghi dấu bởi tội lỗi.
2.Sống theo Thần Khí:
Vẫn còn ở trong sự đối nghịch giữa xác thịt và thần khí, nhưng kinh nghiệm của người Kitô hữu chứng nhận rằng tác động Thần Khí biến đổi tận bên trong con người. Thánh nhân ngỏ lời với những người lãnh bí tích Thánh Tẩy: “Anh em không còn sống theo xác thịt nữa, nhưng sống theo thần khí, nếu thực sự Thánh Thần Chúa ở trong anh em”. Và thánh nhân chứng minh cho họ thấy việc phục sinh thân xác là tất yếu. Đây là nét độc đáo của đoạn văn nầy.
3.Thần Khí là sự sống và là nguyên lý của sự sống lại:
Do tội lỗi, thân xác của chúng ta tất yếu phải chết. Như ở nơi khác, thánh nhân đồng hóa thân xác phải chết với “con người cũ” phải bị diệt vong. Ấy vậy, Thần Khí ở nơi chúng ta là Sự Sống – chính ở đây mà quan niệm Do thái về một con người toàn diện, bất khả phân thân xác và thần thiêng, đóng một vai trò trong lập luận – Thần Khí nầy chắc chắn biến đổi thân xác chúng ta, thân xác sẽ trở thành “thần thiêng” và bất khả hư hoại.
Đây là điều thánh nhân đã nói với các tín hữu Cô-rin-tô rồi: “Việc kẻ chết sống lại cũng vậy: gieo xuống thì hư nát, mà trỗi dậy thì bất diệt, gieo xuống thì hèn hạ, mà trỗi dậy thì vinh quang; gieo xuống thì yếu đuối, mà trỗi dậy thì mạnh mẽ, gieo xuống là thân thể có sinh khí, mà trỗi dậy là thân thể có thần khí. Nếu có thân thể có sinh khí, thì cũng có thân thể có thần khí” (1Cr 15: 42-44). Thánh Phao-lô là chứng nhân của Đấng Phục Sinh. Ánh sáng đã bao phủ thánh nhân trên đường đi Đa-mát và đã soi sáng cuộc đời ngài. Ở trung tâm những khai triển thần học của thánh nhân, chúng ta không ngừng gặp lại biến cố then chốt: sự kiện Phục Sinh. “Sự phục sinh của Đức Giê-su cấu tạo nên bước khởi đầu của cuộc tạo dựng mới mà chúng ta được dự phần vào nhờ đức tin. Từ đó phải rút ra những hiệu quả: trong đức ái, chúng ta sống như những con người được phục sinh; trong đức cậy, chúng ta đảm bảo sự phục sinh tương lai của chúng ta” (Karl Gatzweiler).
TIN MỪNG (Ga 11: 1-45)
Bài trình thuật về việc “Chúa Giê-su cho anh La-da-rô sống lại” là bài trình thuật về dấu lạ dài nhất trong Tin Mừng Gioan. Qua dấu lạ nầy, Đức Giê-su kín đáo loan báo cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Ngài. Đó mới thật sự là Phục Sinh chứ không chỉ việc hoàn sinh một thây ma, bởi vì La-da-rô chỉ sống lại để một ngày kia lại chết.
Hơn bất cứ biến cố nào khác, biến cố nầy bày tỏ “nhân tính” của Đức Giê-su: sự xúc động của Ngài, sự dịu dàng của Ngài, nước mắt của Ngài, và đồng thời cũng biểu lộ “thiên tính” của Ngài: Chủ Tể của sự sống và cái chết: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy” (Ga 10: 18).
Dấu lạ nầy cũng là lời cảnh báo tối hậu mà Đức Giêsu gởi đến cho những ai không chịu tin vào Ngài. Vả lại, lời mời gọi hãy tin vào Ngài là một chủ đề chạy xuyên suốt toàn bộ câu chuyện. Sự căng thẳng giữa Đức Giê-su và dân Ngài, vốn hình thành nên hậu cảnh của Tin Mừng Gioan, không bao giờ đạt đến cao độ như thế. Trước đây, Ngài đã lánh mình sang bên kia sông Gio-đan, đến chỗ trước kia ông Gio-an đã bắt đầu sứ vụ của mình (10: 40), và chỉ vừa mới đây, Đức Giê-su đã phải lánh đi để tránh dân chúng ném đá Ngài, như các môn đệ của Ngài nhắc cho Ngài (11: 9). Chính ở nơi đây mà hai chị em cô Mác-ta và cô Ma-ri-a nhờ người đến báo tin cho Đức Giê-su về bệnh tình của La-da-rô, em trai của hai cô (điều nầy cho thấy các bạn của Ngài biết chỗ Ngài đang lánh nạn). Đức Giê-su trả lời cho người đến báo tin: “Bệnh nầy không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa: qua cơn bệnh nầy Con Thiên Chúa được tôn vinh”.
 Nhưng như thường xảy ra trong Tin Mừng Gioan, kiểu nói nầy có hai nghĩa. Quả thật, Đức Giê-su sẽ “được tôn vinh” qua dấu lạ mà Ngài thực hiện, nhưng dấu lạ nầy sẽ dẫn Ngài đến cái chết của chính mình, vì Ngài sẽ khiến kẻ thù của Ngài công phẩn đến tận xương tủy. Như chúng ta biết, đối với thánh Gioan, vinh quang của Đức Giê-su rực sáng nhất ở nơi cuộc Tử Nạn của Ngài. Thánh Giá là cửa ngõ đưa Ngài trở về nhà Cha Ngài. Tin Mừng Gioan sẽ làm sáng tỏ sự kiện Thiên Chúa đã đặt “vinh quang” của chính mình vào trong sứ mạng cứu độ con người, vì Thiên Chúa đã đặt vào đây tất cả tình yêu của Người.
-Dẫn nhập (11 : 1-5)
Người kể chuyện giới thiệu lý do cuộc hành trình của Chúa Giê-su cùng các môn đệ đến Bê-ta-ni-a và các nhân vật của câu chuyện. Các nhân vật nầy chúng ta đã biết ở nơi khác, nhưng đây là lần đầu tiên Tin Mừng Gioan nói về ba chị em cô Mác-ta, cô Ma-ri-a và anh La-da-rô.
Riêng về cô Ma-ri-a, Tin Mừng Gioan nhận dạng cô (Ga 12 : 1-8) với người phụ nữ vô danh xức dầu thơm cho Đức Giê-su và lấy tóc lau chân Ngài ở Bê-ta-ni-a trước lễ Vượt Qua được tường thuật trong Tin Mừng Mát-thêu (26 : 6-13) và Tin Mừng Mác-cô (Mc 14 : 3-9), nhưng dứt khoát cô không thể được đồng hóa với người phụ nữ tội lỗi được tường thuật trong Tin Mừng Luca (Lc 7 : 36-50), bởi vì việc xức dầu thơm mà thánh Lu-ca nói đến trong khi Chúa Giê-su đang thi hành sứ vụ tại miền Ga-li-lê nên không thể đồng nhất với việc xức dầu thơm mà thánh Gioan, thánh Mát-thêu và thánh Mác-cô nói đến trong bối cảnh kề cận với cuộc Tử Nạn của Ngài. Hơn nữa, sứ điệp của câu chuyện được thuật lại trong Tin Mừng Lu-ca là “ai được tha thứ nhiều, thì yêu mến nhiều”, còn sứ điệp của câu chuyện được kể lại trong ba Tin Mừng kia là loan báo cuộc mai táng của Đức Giê-su. Giáo Hội Đông Phương thường đồng nhất hóa ba nhân vật này: cô Ma-ri-a làng Bê-ta-ni-a, người phụ nữ tội lỗi thống hối và cô Ma-ri-a Mác-đa-lê-na được Chúa trừ bảy quỷ (Lc 8 : 2).
Các sách Tin Mừng chưa bao giờ nói về anh La-da-rô, ngay cả thánh Lu-ca cũng không, cho dù thánh ký này đã tường thuật việc Đức Giê-su viếng thăm hai chị em ở Bê-ta-ni-a (Lc 10: 38-42). Ở đây, anh La-da-rô được giới thiệu “người Thầy thương mến đang bị đau nặng”. Có thể câu nầy là cách thức báo tin, nhưng trong Tin Mừng Gioan, câu nói nầy đóng chức năng như cầu xin một sự can thiệp mầu nhiệm. Có thể thánh ký tránh đặt trên môi miệng của các tín hữu lời cầu xin phép lạ tỏ tường, vì lẽ rằng đối với thánh ký, phép lạ là dấu chỉ để bày tỏ vinh quang của Ngài, chứ không đơn giản chỉ là một hành động thi ân giáng phúc.
Việc anh La-da-rô được gọi biệt danh: “người mà thầy yêu” khiến vài nhà chú giải giả thuyết rằng anh La-da-rô chính là tác giả Tin Mừng Thứ Tư, nhân vật luôn luôn ẩn mình ở nơi danh xưng “người môn đệ mà Đức Giê-su yêu”. Tuy nhiên, giả thuyết nầy bị bác bỏ bởi đa số các nhà chú giải và bởi truyền thống của những thế kỷ đầu tiên.
1.Cuộc đối thoại của Chúa Giê-su với các môn đệ (11 : 6-16) :
Khi được tin báo, thay vì khởi hành ngay đến Bê-ta-ni-a, Đức Giê-su lại trì hoãn. Sau hai ngày, Ngài mới tuyên bố: “Nào chúng ta cùng trở lại miền Giu-đê”. Như vây, Đức Giê-su đến Bê-ta-ni-a chỉ sau khi La-da-rô đã chết và được mai táng trong mồ được bốn ngày rồi. Lý do của việc trì hoãn nầy chắc chắn là Ngài muốn gây ấn tượng ở nơi hành động của Ngài khi hoàn sinh người chết sau khi đã được mai táng trong mồ.
Các môn đệ lưu ý Thầy mình về hoàn cảnh nguy hiểm: “Thưa Thầy, mới đây người Do thái tìm cách ném đá Thầy, mà Thầy còn đến đó sao?” Trong chuyện kể của chúng ta, độc giả được loan báo rằng việc Ngài ra đi không nhằm bất kỳ lý do thuần túy nhân loại, nhưng mặc một ý nghĩa cao siêu, tức là bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa. Tuy nhiên, các môn đệ chưa ngộ được ý nghĩa cao siêu nầy. Phản ứng của họ là phản ứng cẩn trọng của con người: ở Giu-đê, cuộc sống của Đức Giê-su bị đe dọa, vì thế Ngài không nên trở lại đó để thăm người bạn đang lâm bệnh vào lúc này. Đây là đề tài một từ có hai nghĩa rất quen thuộc của Tin Mừng Thứ Tư.
Đức Giê-su sẽ giúp cho các môn đệ vượt qua từ sự hiểu biết thuần túy địa giới đến một tiên cảm nào đó về mầu nhiệm. Như thông thường trong Tin Mừng Gioan, Đức Giê-su khai lòng mở trí cho các môn đệ nhờ vào một cách thức mặc khải bí nhiệm. Dựa trên ý nghĩa ẩn dụ “ngày và đêm”, Ngài công bố mầu nhiệm của Ngài. Theo nghĩa vật lý, thành ngữ nầy muốn nói rằng có thời gian cho mỗi việc, và thật thích hợp khi chọn ban ngày để bước đi ngỏ hầu tránh những tai nạn khi phải bước đi trong đêm tối. Theo nghĩa ẩn dụ (nghĩa của Tin Mừng Thứ Tư), “ngày” là thời gian của ánh sáng. Điều này muốn nói rằng bao lâu Đức Giê-su vẫn còn đó, phải tận dụng ánh sáng của Ngài, mặc khải mà Ngài đem đến. Vì thế, nỗi sợ hãi thật sự không xuất phát từ những nguy hiểm do con người tạo ra, nhưng từ sự vắng bóng Ánh Sáng. Việc Đức Giê-su tiến về Giê-ru-sa-lem không được đánh giá theo sự chuyển biến thận trọng của con người, đúng hơn, thuộc phạm vi bày tỏ Ánh Sáng. Vì thế, đây là một lời mời gọi hãy tin vào Ngài nhờ vào Ánh Sáng nầy, nhưng cũng là lời loan báo về viễn cảnh đầy đe dọa của đêm sắp đến: cái chết và cuộc chiến thắng bóng tối, tức là quyền lực tử thần (x. Ga 13: 30b). 
Tiếp đó, dù không có ai cho biết điều gì về bệnh tình của anh La-da-rô, Đức Giê-su công bố rằng anh La-da-rô đã chết qua hình ảnh giấc ngủ : “La-da-rô, bạn của chúng ta đang yên giấc ; tuy vậy, Thầy đi đánh thức anh ấy đây” (11 : 11), như trước đây đối với bé gái của viên trưởng hội đường: “Đứa bé có chết đâu, nó ngủ đấy!” (Mc 5: 39). Đức Giê-su vui mừng vì sứ điệp của Ngài sẽ dễ dàng được hiểu ở nơi dấu lạ Ngài sắp thực hiện.
Các môn đệ không còn tìm cách ngăn cản Ngài nữa. Một trong các môn đệ của Ngài, Tô-ma, tự phát và bạo dạn nói với các bạn đồng môn của mình: “Cả chúng ta nữa, chúng ta cùng đi để cùng chết với Thầy”.
2.Cuộc đối thoại của Đức Giê-su với cô Mác-ta (11 : 17-27) :
Khởi đi từ câu 17, câu chuyện bắt đầu một giai đoạn mới: khung cảnh không còn Ga-li-lê, nhưng Bê-ta-ni-a, chiều kích mặc khải của dấu lạ không còn chỉ được loan báo, nhưng được vén mở. Chính trong khung cảnh của cuộc đối thoại với cô Mác-ta mà ý nghĩa dấu lạ dần dần được minh giải.
A-Niềm tin của cô Mác-ta :
 Trong khung cảnh Bê-ta-ni-a, chúng ta gặp lại tính tình khác nhau của hai chị em này: cô Mác-ta thì năng động, còn cô Ma-ri-a có đời sống nội tâm sâu lắng, đã được Tin Mừng Lu-ca ghi nhận trong một dịp Chúa Giê-su viếng thăm nhà của hai cô (Lc 10 : 38-42). Tuy nhiên, trong câu chuyện của Tin Mừng Gioan, tính tình năng động của cô Mác-ta đã là cơ hội giúp Chúa Giê-su dẫn đưa cô, và qua cô dẫn đưa độc giả vào một mạc khải cao vời về chân tính của Ngài.
Dù bận rộn tiếp đón những người thân đến chia buồn, nhưng vừa khi nghe tin Chúa Giê-su đến, cô Mác-ta hối hả ra tận đầu làng để đón Ngài. Khi vừa mới gặp Chúa Giê-su, cô Mác-ta trách cứ Ngài, Ngài đã cứu chữa biết bao bệnh nhân, ấy vậy lại đã không đến kịp lúc để cứu chữa người bạn mà Ngài thương mến. Tuy trách cứ như vậy, nhưng cô vẫn nuôi hy vọng: “Nhưng bây giờ con biết: Bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người sẽ ban cho Thầy”. Nhưng Đức Giê-su muốn kiện toàn đức tin của cô, Ngài không muốn cô Mác-ta chỉ hài lòng thấy Ngài là một con người của Thiên Chúa, nghĩa là những gì Ngài cầu xin đều được Thiên Chúa nhận lời, nhưng cô còn phải nhận ra chân tính của Ngài.
B-Ta là sự sống lại và là sự sống:
Khi Chúa Giê-su nói với cô: “Em chị sẽ sống lại”, đó là dự định của Chúa Giê-su khi đến đây. Nhưng cô Mác-ta lại hiểu lời này là lời an ủi nên cô đáp: “Con biết em con sẽ sống lại, khi kẻ chết sẽ sống lại”. Ở nơi câu trả lời của cô hàm chứa niềm tin Do thái giáo. Từ nhiều thế kỷ trước đó, niềm tin vào sự sống lại thuộc về gia sản tinh thần của Do thái giáo, ngoại trừ nhóm Sa-đu-xê-ô không thừa nhận thôi.
Chúa Giê-su tuyên bố: “Ta là sự sống lại và là sự sống”, lời tuyên bố này khai mở một loạt “Ta là” qua đó Đức Giê-su xác định phẩm tính hữu thể thần linh của Ngài: “Ta là đường, sự thật và sự sống”, “Ta là ánh sáng”, “Ta là cửa”, “Ta là cây nho thật”, “Ta là Mục Tử nhân lành”, vân vân. Trong câu chuyện này, Chúa Giê-su khai triển lời tuyên bố này xa hơn: “Ai sống và tin vào Thầy, thì dù đã chết, thì cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết”. Những lời nầy của Đức Giê-su đã được hiểu theo nhiều cách khác nhau và được giải thích theo nhiều cách khác nhau, tuy nhiên một điều chắc chắn: Đức Giê-su khẳng định Ngài là nguồn mạch sự sống đời đời. Thêm nữa, tiến trình của câu chỉ ra rằng Ngài muốn hiệu đính, hay đúng hơn bổ túc lời khẳng định của cô Mác-ta: còn hơn cả sự sống lại vào ngày sau cùng. Đối với người Kitô hữu, có một cuộc sống siêu nhiên vô tận khơi nguồn ở nơi sự hiệp nhất của họ với Đức Ki-tô ngay từ cõi thế này. Ngoài ra, Giáo Hội còn dạy rằng cuộc sống không kết thúc ở nơi cái chết. Trong Thánh Lễ Cầu Hồn, Giáo Hội nói với chúng ta : “Cuộc sống không hề mất đi, nhưng thay đổi” (vita mutatur non tollitur).
Cuộc Mặc Khải chấm dứt với lời mời gọi dứt khoát theo thể nghi vấn: “Chị có tin thế không ?”. Câu hỏi này được đặt ra, ở bên kia cô Mác-ta, cho những ai hiểu lời hứa nầy của Đức Ki-tô. Cô Mác-ta đã lắng nghe. Cô đã đạt đến một niềm tin cao vời khi nhận ra Đức Giê-su là Đấng Mê-si-a (Ki-tô) và là Con Thiên Chúa: “Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian”.
3.Thực hiện dấu lạ (11 : 28-44) :
Sau lời tuyên xưng đức tin của cô Mác-ta, câu chuyện bước vào giai đoạn thứ ba, trực tiếp hướng đến việc thực hiện dấu chỉ. Sự hiện diện của cô Ma-ri-a và của những người Do thái đem đến cho câu chuyện một hướng phát triển, một bước nhảy vọt nào đó. Việc thực hiện dấu lạ không đem đến những yếu tố mới cho phần mặc khải trước đó, nhưng cho phép ghi nhận thêm lần nữa vài phản ứng tiêu biểu trước dấu lạ của Ngài. Cô Ma-ri-a diễn tả niềm tin của mình theo cách khác, nhưng cũng không kém mãnh liệt: cô phủ phục dưới chân Đức Giê-su, đó là thái độ tôn thờ.
A-Đức Giê-su xúc động:
Cảm xúc của Đức Giê-su được gợi lên đến ba lần: Ngài thổn thức tận đáy lòng (11 : 33), Đức Giê-su liền khóc (11 : 35), Đức Giê-su lại thổn thức tận đáy lòng (11 : 38). Động từ Hy lạp được tác giả sử dụng ở đây đến hai lần và được dịch “thổn thức” bao gồm nét nghĩa phẩn uất: Đức Giê-su phẩn uất trước cái chết, tấn thảm kịch của thân phận con người, và cũng có thể Ngài thổn thức khi nghĩ đến cái chết của mình.
B- Hãy cất phiến đá nầy đi :
“Ngôi mộ đó là một cái hang có phiến đá đậy lại”. Thánh Gioan kể tỉ mỉ những chi tiết nầy vì chúng loan báo một cuộc mai táng khác, cuộc mai táng của chính Chúa Giê-su, theo đó cũng một phiến đá được lăn lấp mộ và được lăn ra khỏi mộ một cách mầu nhiệm.
Khi cầu nguyện lớn tiếng, Chúa Giê-su có chủ ý khơi động niềm tin của những người có mặt, niềm tin vào Ngài, niềm tin vào sự hiệp nhất của Ngài với Cha Ngài, niềm tin mà Ngài muốn các môn đệ của Ngài phải kiên vững ngay trước khi cuộc thử thách lớn lao xảy đến và để họ nhớ lại vào buổi sáng Phục Sinh quyền năng của Ngài trên sự chết.
Khi mô tả cách chi tiết việc anh La-da-rô ra khỏi mồ, chân tay còn quấn vải liệm và mặt còn phủ khăn, Tin Mừng Gioan cố ý nhấn mạnh với độc giả sự tương phản với cuộc Phục Sinh của Đức Giê-su, Ngài bỏ lại trong mồ mọi liên hệ với cái chết, cái chết nầy Ngài đã chiến thắng cách vĩnh viễn, không còn tác động gì đến Ngài.
-Phần Kết (11 : 45)
Đoạn Tin Mừng Gioan được trích trong Phụng Vụ hôm nay chấm dứt với câu 45 nhưng chúng ta phải đọc cho đến câu 53 để thấy dấu lạ của sự phục sinh này gây nên hai phản ứng trái ngược nhau từ phía người Do thái, những chứng nhân của dấu lạ: những người nầy tin (11 : 45) trong khi những người khác “đi gặp nhóm Biệt phái và kể cho họ những gì Đức Giê-su đã làm” (11 : 46), theo cách nào đó, đó là những người cộng tác vào quyết định của những kẻ thù của Đức Giê-su, bởi vì dấu lạ này còn là cái cớ để giai cấp lãnh đạo Do thái buộc tội và kết án tử cho Chúa Giê-su.
“Tất cả giáo huấn của bố cục văn chương quan trọng nầy được tập trung xung quanh các câu 25-26, Đức Giê-su đem đến cho chúng ta ở đây một sự mặc khải căn bản: Ngài là sự Sống Lại và là Sự Sống. Bất cứ ai tin vào Ngài, cho dù đã chết, cũng sẽ được sống ! Nhưng đồng thời, một câu hỏi có tính quyết định được đặt ra cho chúng ta và, qua đó, thật đáng sợ: Anh hay chị có tin như thế không ?
Như vậy, mỗi người trong chúng ta được đặt vào trong chỗ mà lời nầy được công bố. Sứ điệp Phục Sinh không đề nghị cho chúng ta những chắc chắn dễ dàng, đảm bảo, được đặt nền tảng trên những kinh nghiệm khả giác và kỳ diệu. Nó đề nghị cho chúng ta một mặc khải và một lời hứa: mặc khải: Đức Giê-su đã chiến thắng sự chết, và lời hứa: Ngài có thể liên kết chúng ta vào cuộc chiến thắng nầy. Đức tin của chúng ta không miễn trừ cho chúng ta nghiệm thấy nghiệt ngã những tang chế, những từ bỏ thường ngày và nỗi sợ hãi trước cái chết; nhưng còn là chấp nhận hiểu và sống những biến cố hiện tại dưới ánh sáng của Sự Sống cao vời mà Đức Giê-su loan báo cho chúng ta và Ngài là nguồn mạch.
Tin vào biến cố phục sinh, đó không chỉ chấp nhận rằng Đức Giê-su thực sự phục sinh; chính là đón tiếp sự phong phú của biến cố nầy cho chúng ta và sống cho thật thích đáng” (Joseph Ponthot).
suy-niem-chu-giai-loi-chua-chua-nhat-ii-mua-vong-b-lm-inhaxio-ho-thong
Suy niệm chú giải Lời Chúa Chúa Nhật II Mùa Vọng B - Lm. Inhaxiô Hồ Thông.

Cả ba bài đọc của Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật II Mùa Vọng đều được định vị trong viễn cảnh của việc Thiên Chúa can thiệp vào trong Lịch Sử loài người. “Hỡi kẻ loan tin mừng cho Xi-on, hãy trèo lên núi cao…”. Chính ở nơi bản văn nầy mà những Ki-tô hữu tiên khởi đã mượn thuật ngữ “Tin Mừng” để chỉ Mặc Khải Đức Giê-su Ki-tô mang đến. Vì thế, chúng ta ở tận nguồn của thần học về “Tin Mừng” .

suy-niem-chu-giai-loi-chua-chua-nhat-i-mua-vong-b-lm-inhaxio-ho-thong
Suy niệm chú giải Lời Chúa Chúa Nhật I Mùa Vọng B - Lm. Inhaxiô Hồ Thông.

Vào Chúa Nhật I Mùa Vọng năm B nầy, Phụng Vụ Lời Chúa hướng lòng chúng ta trông đợi ngày Chúa đến. Trong đoạn trích Tin Mừng hôm nay, “Đức Giê-su nói với các môn đệ của Ngài về ngày quang lâm của Người”. Vì thế, Ngài bắt đầu khi khuyên các môn đệ Ngài: “Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức, vì anh em không biết khi nào thời ấy đến”, và kết thúc khi lập lại lời khuyên nầy nhưng mở rộng ra với hết thảy mọi người: “Điều Thầy nói với anh em đây, Thầy cũng nói với hết thảy mọi người: hãy canh thức!”. Ở giữa là một dụ ngôn minh họa cho lời khuyên chủ đạo nầy.

suy-niem-chu-giai-loi-chua-chua-nhat-34-tn-a-le-duc-giesu-kito-vua-vu-tru-lm-inhaxio-ho-thong
Suy niệm chú giải Lời Chúa Chúa Nhật 34 Tn A: Lễ Đức Giêsu Kitô Vua vũ trụ - Lm. Inhaxiô Hồ Thông.

Lễ Chúa Kitô Vua đã được Đức Pi-ô XI thiết định vào năm 1925 để khẳng định niềm tin của Giáo Hội vào quyền tối thượng của Đức Giê-su trên mọi người, mọi gia đình và mọi xã hội nhân loại. Trong Thông Điệp của mình “Quas primas” vào ngày 11 tháng 12 năm 1925, Đức Pi-ô XI đặc biệt tố cáo chủ nghĩa thế tục làm phương hại tận căn vương quyền của Đức Ki-tô.

suy-niem-chu-giai-loi-chua-chua-nhat-33-tn-a-kinh-trong-the-cac-thanh-tu-dao-viet-nam-lm-inhaxio-ho-thong
Suy niệm chú giải Lời Chúa Chúa Nhật 33 Tn A: Kính trọng thể các Thánh tử đạo Việt nam - Lm. Inhaxiô Hồ Thông.

Mặc dầu đoạn Tin Mừng được dành cho ngày mừng kính trọng thể Các Thánh Tử Đạo Việt Nam được trích là Mt 10: 17-22, nhưng để hiểu sâu xa đoạn Tin Mừng nầy chúng ta sẽ đặt nó vào trong phân đoạn trọn vẹn của nó, nghĩa là Mt 10: 17-25. Quả thật, trong văn mạch của Tin Mừng Mát-thêu, phân đoạn thứ hai về những huấn thị bách hại (10: 17-25) phân biệt rõ nét với phân đoạn thứ nhất về những huấn thị truyền giáo (10: 1-16).

suy-niem-chu-giai-loi-chua-chua-nhat-32-tn-a-lm-inhaxio-ho-thong
Suy niệm chú giải Lời Chúa Chúa Nhật 32 TN A - Lm. Inhaxiô Hồ Thông.

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXXII Thường Niên Năm A xoay quanh một chủ đề nồng cốt: “con người mong ước được gặp gỡ Thiên Chúa”. Tin Mừng tường thuật dụ ngôn “Mười Trinh Nữ Đi Đón Chàng Rể”, trong đó chỉ năm cô khôn ngoan chuẩn bị chu đáo cho cuộc gặp gỡ này mới có thể vào dự tiệc cưới với chàng rể.   

suy-niem-chu-giai-loi-chua-chua-nhat-xxxi-tn-a-lm-inhaxio-ho-thong
Suy niệm chú giải Lời Chúa Chúa Nhật XXXI TN A - Lm. Inhaxiô Hồ Thông.

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXXI Thường Niên Năm A trình bày cho chúng ta những bổn phận và trách nhiệm của các tư tế thi hành tác vụ tế tự của mình và của những người có sứ vụ giảng dạy và loan báo Tin Mừng. Đoạn Tin Mừng được trích dẫn hôm nay gồm hai phần: trong phần thứ nhất, Chúa Giê-su nghiêm khắc phê phán các kinh sư và những người Pha-ri-sêu (23: 1-7), và trong phần thứ hai, Chúa Giê-su cảnh giác các môn đệ Ngài (23: 8-12).

Quý độc giả có thể gửi thư cho người quản trị website, đóng góp ý kiến, đưa ra những yêu cầu, thắc mắc...

Quý độc giả có thể email trực tiếp tới kinhthanhvn@gmail.com.



Xin cảm ơn!.

Hỗ trợ & Cung Cấp Website Wsup3

Copyright © 2016 KINHTHANHVN.NET.