kinhthanh

TRANG CHỦ li-category GIẢI ĐÁP THẮC MẮC li-category PHỤC SINH LÀ GÌ?

Trong Lễ Phục Sinh, chúng ta thường hát: “Chúa đã sống lại thật, Alleluia!” hay nói: “Chúa Giêsu đã chỗi dậy từ cõi chết”.
Vậy, phục sinh là gì? Thế nào là chỗi dậy? Chúng ta thử tìm hiểu nguồn gốc và ý nghĩa của những thuật từ này.
 

1.   Phục sinh 
1.1 tìm hiểu từ nguyên resurrectio
Từ phục sinh mà các Kitô hữu đang sử dụng dịch từ chữ resurrectio trong tiếng Latinh. Resurrectio có nghĩa:
- Sống lại từ cõi chết.
- Sự sống lại của Đức Kitô sau khi chết và được mai táng.
- Sự sống lại của con người trong ngày phán xét.
- Tình trạng của người sống lại từ cõi chết.
- Tái sinh từ sự huỷ hoại, phế thải.... sống lại.
Khác với quan niệm của người Hy Lạp ngày xưa: Linh hồn con người, tự bản chất không hư nát, khi chết thì linh hồn được giải thoát khỏi những ràng buộc của thân xác, đơn độc đi vào cõi bất tử của các thần linh, quên hết tất cả cuộc sống dĩ vãng của mình ở trần gian. Thánh Kinh quan niệm rằng: con người, với thân phận hiện tại, nằm dưới quyền lực của Thần Chết: Khi chết linh hồn bị giam trong Shêol, còn thân xác bị huỷ hoại trong nấm mồ. Nhưng đó chỉ là tình trạng tạm thời, vì nhờ hồng ân Chúa, con người sẽ sống lại như chỗi dậy từ lòng đất nơi họ đã an nghỉ, thức dậy từ một giấc ngủ mà họ đã thiếp đi. Vì vậy, Thánh Kinh thường dùng từ an giấc khi đề cập đến sự chết và ngược lại, khi nói đến việc sống lại thường dùng từ chỗi dậy: “Những kẻ chết đâu còn sống lại, những âm hồn có chỗi dậy đâu!” (Is 26,14: Mortui non reviviscent, defuncti non resurgent).
1.2. Trong tiếng Hán Việt:
HÁN VIỆT TỰ ĐIỂN của Thiều Chửu giải nghĩa hai chữ này khá đầy đủ như sau:
- Phục (復): chữ này có 3 âm và mỗi âm có ý nghĩa hoàn toàn khác nhau: 1. PHỤC: (1) Lại, đã đi rồi lại trở lại; (2) Báo đáp. 2. PHÚC: (1) Lại có hai; (2) Trừ, miễn cho khỏi đi phu phen tạp dịch. 3. PHÚ: Đồng nghĩa với chữ phú(覆) nghĩa là (1). Lật lại, phản phúc: kẻ hay giở giáo; (2) Che trùm (Thiên phú địa tải).
- Sinh (生): (1) Sống, đối lại với tử; (2) Còn sống; (3) Những vật có sự sống, như chúng sanh; (4) Sinh sản, nẩy nở; (5) Nuôi, những đồ để nuôi sống đều gọi là sanh; (6) Sống chưa chín; (7) Học trò; (8) Dùng như chữ mạt; (9) Dùng làm tiếng đệm; (10) Tiếng dùng trong tấn tuồng (Chỉ nam diễn viên tuồng cổ, như văn sinh, võ sinh).
- Phục sinh (復生): nghĩa là sống lại, tương tự như từ hồi sinh, tái sinh, tức là người chết sống lại, sứ sống lại từ cỏi chết. Theo niềm tin Công Giáo phục sinh là linh hồn tái kết hợp với thể xác.
2. Chỗi dậy
Trong Tân Ước, việc sống lại của Đức Kitô được Thánh Phaolô gọi là “anastasis” tiếng Hy Lạp có nghĩa là “chỗi dậy, resurgo”, được thực hiện bởi một tác động thần linh mà tiếng Hy Lạp gọi là “egeirein” có nghĩa là “đánh thức, suscito”: Đấng “chỗi dậy”, Đấng người ta “đánh thức” dậy, cũng chính là Đấng đã nằm xuống trong giấc ngủ sự chết (1Cr 15,4) .
Như vậy, resurrectio (do động từ resurgo, nghĩa là “đứng dậy, chỗi mình dậy, lại xuất hiện”) không đơn thuần là sống lại, nhưng còn hàm ý việc sống lại do bởi quyền năng của Thiên Chúa, Đấng là chủ sự sống, Đấng sẽ làm cho con người cùng được chỗi dậy với Đức Kitô (Cl 2,12; Ep 1,19). Đức Kitô phục sinh không trở lại với đời sống cũ tại thế (Cv 13,34; Rm 6,9). Phục sinh không có nghĩa là hồi sinh, mà là khởi điểm một công trình tạo dựng mới (1Cr 15,42). Do đó, phục sinh có nội dung hết sức phong phú, chúng ta không thể bàn hết trong khuôn khổ bài viết này.
3. Nhận xét
Như vậy, về mặt từ Hán Việt, phục sinh chỉ có nghĩa là sống lại, tương tự như từ hồi sinh, tái sinh... không diễn tả hết ý nghĩa “anastasis” “egeirein” hay resurrectio. Còn chỗi dậy hay trỗi dậy thì đúng nghĩa đen với chữ resurrectio, nhưng trong tiếng Việt thì không thể diễn tả được bất kỳ một ý nghĩa gì của việc “vượt qua cõi chết”.
Một trong những nguyên tắc dịch Thánh kinh phải trung thành với nguyên văn, nhưng cũng phải chú ý đến văn hóa của từng địa phương. Nếu chúng ta dịch “anastasis”, resurrectio là chỗi dậy, thì chúng ta nên nói mừng Lễ Trỗi Dậy hay là Lễ Phục Sinh?
Kết
Lễ Phục Sinh đã trở nên từ ngữ quốc tế cho cả Việt Nam, Trung Quốc (復活節Phục hoạt tiết), Nhật (Kanji: 復活祭phục hoạt tế) và Hàn Quốc (부활절Phục hoạt tiết), nên chăng chúng ta thống nhất cách dịch?
 

 
LM. Stêphanô Huỳnh Trụ
____________________________________
 
 
SÁCH THAM KHẢO:
 
1. Huỳnh Tịnh Paulus Của, ĐẠI NAM QUẤC ÂM TỰ VỊ, Rey, Curiol & Cie, Sài Gòn, 1895.
2. Khai Trí Tiến Đức, VIỆT NAM TỪ ĐIỂN, Mặc Lâm xb., Hà Nội, 1931.
3. LM. Eugène Gouin, MEP, DICTIONNAIRE VIETNAMIEN CHINOIS FRANCAIS, D'Extrême Orient, Sài Gòn, 1957.
4. Từ Phát, HỎI NGÃ TỰ VỊ, Thanh Quang xb., Sài Gòn, 1958.
5. Ban Tu Thư Khai Trí, TỰ ĐIỂN VIỆT NAM, Khai Trí xb., Sài Gòn, 1971.
6. Gs. Lê Ngọc Trụ, VIỆT NGỮ CHÍNH TẢ TỰ VỊ, In lần II, Khai Trí xb., Sài Gòn, 1972.
7. Nxb Khoa Học Xã Hội, TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆT, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1977.
8. Gs. Hoàng Phê (cb), TỪ ĐIỂN CHÍNH TẢ TIẾNG VIỆT, In lần thứ II, Nxb Giáo Dục, TP.HCM, 1988.
9. Gs. Nguyễn Như Ýù (cb), ĐẠI TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆT, Nxb. VHTT, Hà Nội, 1999.
10. Gs. Nguyễn Lân, TỪ ĐIỂN TỪ & NGỮ VIỆT NAM, Nxb. TP.HCM, TP.HCM, 2000.
11. Viện Ngôn Ngữ Học, TỪ ĐIỂN TIẾNG VIỆT, Viện Ngôn Ngữ Học, Hà Nội, 2004.

 
Nguồn: simonhoadalat.com
tim-hieu-ve-le-truyen-dau
Tìm hiểu về Lễ Truyền Dầu?

Sở dĩ gọi là lễ Truyền Dầu, vì trong thánh lễ này, Đức Giám mục sẽ hiến thánh Dầu Thánh, làm phép Dầu Bệnh nhân và Dầu Dự tòng, dùng để cử hành một số bí tích và phụ tích.Lễ này cũng còn có mục đích tưởng niệm việc Chúa lập bí tích Truyền chức Thánh, tấn phong một số người được tuyển chọn lên làm Linh mục, ban cho các ngài quyền hành động nhân danh Chúa Kitô để làm những việc, đúng ra, chỉ mình Thiên Chúa có thể làm, như tái diễn hy lễ của Chúa Ktiô trên Thánh giá, tha tội cho muôn người, v.v..

ti-sao-knh-thnh-giuse-vo-thng-ba-2
Tại Sao Kính Thánh Giuse Vào Tháng Ba?

Nhằm để chuẩn bị mừng lễ, người ta tổ chức ba ngày hay chín ngày dọn mình; và rồi tính cách long trọng của lễ còn kéo dài ra suốt tuần bát nhật. Vị chi là non 20 ngày rồi, cho nên kéo dài ra thêm một tháng cũng chẳng vất vả gì. Điều này rõ rệt với phụng vụ Đông phương: ngày 15 tháng 8 là lễ Đức Mẹ lên trời; các đan sĩ dành 15 ngày trước đó để chuẩn bị và kéo dài thêm 15 ngày sau đó. Trong bối cảnh đó, chúng ta có thể hiểu được vì sao tháng 3 được dành cho thánh Giuse, bởi vì lễ thánh Giuse được mừng trong tháng 3, ngày 19. Việc dâng kính tháng 3 cho thánh Giuse được Đức Giáo Hoàng Piô IX chuẩn nhận ngày 27/4/1865.

vi-sao-nguoi-cong-giao-khong-an-thit-ngay-thu-sau-mua-chay
Vì sao người công giáo không ăn thịt ngày thứ sáu Mùa Chay?

Vì sao Giáo hội yêu cầu người công giáo không ăn thịt các ngày thứ sáu Mùa Chay (ngày thú tư Lễ Tro và Thứ Sáu Tuần Thánh) nhưng lại cho phép ăn cá? Trước hết là câu hỏi: “Vì sao ngày thứ sáu?” Từ xa xưa, chúng ta không còn nhớ bắt đầu từ lúc nào, các cộng đoàn công giáo xem ngày thứ sáu là ngày đặc biệt để ăn năn hối cải, trong niềm vui, họ chia sẻ với nhau các sự thương khó của Chúa Kitô trong hy vọng một ngày được vinh quang với Ngài.

tai-sao-goi-la-“chua-cac-dao-binh”
Tại sao gọi là “Chúa các đạo binh”?

Trong thánh lễ, sau kinh Tiền tụng, tất cả cộng đoàn hát lên lời tung hô: “Thánh, Thánh, Thánh, Chúa là Thiên Chúa các đạo binh”. Tại sao gọi là “Thiên Chúa các đạo binh”? Phải chăng Chúa có một quân lực hùng hậu, bách chiến bách thắng? Lời chúc tụng “Thánh thánh thánh” được trích từ đoạn văn Isaia chương 6, câu 2-3, mô tả một thị kiến trong đền thờ: Thiên Chúa hiện ra với ông Isaia như là một hoàng đế lâm triều, ngự trên ngai, và các thần Sêraphim tung hô: “Thánh thánh thánh…"

cuu-roi-va-cuu-the-khac-nhau-the-nao
Cứu Rỗi Và Cứu Thế Khác Nhau Thế Nào?

Có lẽ một từ ngữ được nghe nói nhiều nhất trong văn chương công giáo là: sự cứu rỗi. Đức Kitô cũng được gọi là Chúa Cứu thế, Đấng Cứu chuộc. Thế thì: “cứu rỗi, cứu thế, cứu chuộc” có gì khác nhau hay không? Danh mục các từ ngữ còn có thể kéo dài thêm nữa: cứu thoát, cứu độ, cứu tinh, Cứu Chúa. Dù sao, nên biết không phải chỉ có Kitô giáo mới sử dụng các từ ngữ đó. Có thể nói được là tất cả các tôn giáo đều phải bàn tới sự cứu rỗi cách nào đó.

th-vn-midrash-ca-sch-kinh-thnh-l-th-vn-g--2
Thể văn MIDRASH của sách KINH THÁNH là thể văn gì?

Thuật ngữ MIDRASH là tiếng Híp-ri có nghĩa là “xem xét” (examiner), “giải thích” (expliquer). Thể văn midrash là loại văn chương chú giải (exégèse) các sách Kinh Thánh của các thầy Ráp-bi (các thầy dạy trong Do Thái giáo).

Quý độc giả có thể gửi thư cho người quản trị website, đóng góp ý kiến, đưa ra những yêu cầu, thắc mắc...

Quý độc giả có thể email trực tiếp tới kinhthanhvn@gmail.com.



Xin cảm ơn!.

Hỗ trợ & Cung Cấp Website Wsup3

Copyright © 2016 KINHTHANHVN.NET.