kinhthanh

TRANG CHỦ li-category Ý kiến li-category PHAN KHÔI DỊCH KINH THÁNH TIN LÀNH NHƯ THẾ NÀO?

Số 429 (tháng 6/2013)

ĐÂY LÀ BÀI VIẾT CỦA NHÀ NGHIÊN CỨU VĂN HỌC NGUYỄN TÀ CÚC Ở HOA KỲ, ĐÃ GỬI CHO CHÚNG TÔI ĐỂ NHỜ TRAO ĐỔI VỚI ÔNG PHAN NAM SINH, THỨ NAM HỌC GIẢ PHAN KHÔI, VỀ MỘT VÀI CHI TIẾT TÁC GIẢ CÒN BĂN KHOĂN. NHẬN THẤY ĐÂY CÓ THỂ LÀ VẤN ĐỀ ĐỘC GIẢ QUAN TÂM, NÊN CHÚNG TÔI ĐÃ ĐỀ NGHỊ TÁC GIẢ CHO PHÉP IN LẠI TRÊN XƯA&NAY. DO KHUÔN KHỔ CỦA TẠP CHÍ CHÚNG TÔI XIN PHÉP LƯỢC MỘT VÀI ĐOẠN.

 

Nhắc đến Kinh thánh, không ai là không biết đến tầm quan trọng của nó trong mọi khía cạnh của nền văn minh Tây phương từ lịch sử cho đến nghệ thuật, như được chứng minh qua một thí dụ điển hình sau đây. Chẳng hạn bức tranh Guernica nổi tiếng của danh họa Pablo Picasso, được nhiều nhà nghiên cứu mỹ thuật cho rằng có thể đã lấy cảm hứng từ cuốn Kinh thánh Mozarabic (960 tr. CN.), có những “trùng hợp không thể nào tình cờ” hiện ra rất rõ trong hình các con thú, như bò tót vốn là biểu tượng của Thánh Lu-ca, hình con ngựa cũng tương tự như một con sư tử trong cuốn Kinh thánh này. Đến Gustave Doré, họa sĩ người Pháp (1832-1883) thì càng lừng danh với cả trăm tấm họa khắc trên gỗ mà ông diễn tả các biến cố trọng đại đã xẩy ra trong cả Cựu ước lẫn Tân ước. Khoảng 240 bức họa này đã được lựa chọn dưới nhan đề “Minh họa Kinh thánh” và xuất bản lần đầu tại Pháp vào năm 1865, và sau đó, in lại qua nhiều ấn bản với các ngôn ngữ khác nhau.

Cách đây hơn nửa năm, nhật báo The New York Times, tờ báo vẫn được xem là có thế lực nhất Hoa Kỳ, phạm vào một lỗi lầm hết sức bất ngờ là không soát lại một bài viết trong đó tác giả đã gán nhầm cho nhà thơ W. B. Yeats một câu phát biểu có xuất xứ từ Kinh thánh(1). Đó là câu “Chớ quên sự tiếp khách; có khi kẻ làm điều đó đã tiếp đãi thiên sứ mà không biết” (Hê-bơ-rơ 13:2, Kinh thánh Tin Lành, Cadman-Phan Khôi dịch, Thánh Thơ Công hội xuất bản tại Thượng Hải, 1925). Một tuần sau, khi độc giả nhắc cho biết, tờ The New York Times phải đính chính cho rõ ràng hơn.

Bởi thế, nếu chính những người từ nền văn minh ấy mà còn bị mang tiếng vay mượn hay nhầm lẫn thì chúng ta, những người xuất thân từ một nền văn hóa khác, càng dễ nhầm lẫn hơn nữa khi phải nói đến một vấn đề có những chi tiết vẫn chưa sáng tỏ hoàn toàn liên quan đến bản dịch Kinh thánh của Hội thánh Tin lành Việt Nam.

Những nhận xét sai lầm của Thụy Khuê

Mới đây, nhà phê bình Thụy Khuê, trong cuốn Nhân văn Giai phẩmVấn đề Nguyễn Ái Quốc(2)  đã giới thiệu sai lầm về việc dịch Kinh thánh-Tân ước của Phan Khôi. Trong sách bà đã viết như sau:

“Bây giờ thử so sánh đoạn Chúa giáng sinh, trong kinh Tân ước qua hai bản Tin Lành và bản Công giáo, để thấy cách dịch của Phan Khôi.

“Phúc âm Matthieu – L’Évangile selon Saint Matthieu, bản Tin Lành dịch:

“Phúc âm Mã-Thi, Chúa giáng sinh

Sự giáng sinh của Chúa Cứu Thế Giê-xu diễn tiến như sau: Cô Ma-ri đã đính hôn với Giô-sép, nhưng khi còn là trinh nữ, nàng chịu thai do Thánh Linh. “Giô-sép, vị hôn phu của Ma-ri là người ngay thẳng, quyết định kín đáo từ hôn, vì không nỡ để nàng bị sỉ nhục công khai. Đang suy tính việc ấy, Giô-sép bỗng thấy một thiên sứ đến báo mộng: “Giô- sép, con cháu Đa- vít! Đừng ngại cưới Ma-ri làm vợ! Vì cô ấy chịu thai do Thánh Linh. Ma-ri sẽ sinh con trai, hãy đặt tên là Giê-xu vì Ngài sẽ cứu dân Ngài khỏi xiềng xích tội lỗi” (Thụy Khuê chú thích – số 790, tr. 628, sđd – rằng đoạn trên trích từ Thánh Kinh Cựu ước và Tân ước, Thánh Kinh Hội quốc tế xuất bản, Văn Phẩm Nguồn Sông phát hành, 1994, trích Kinh Tân ước, sách Phúc âm Mã-Thi, Chúa giáng sinh, tr.l).

Sau khi trích thêm phần dịch của “bản Công giáo” (“Tin mừng theo thánh Mát-Thêu, Truyền tin cho ông Giu-se”, tr. 628, sđd), Thụy Khuê kết luận:

“So sánh hai đoạn văn, chúng ta thấy ngay tài dịch của Phan Khôi: đoạn trên ngắn hơn đoạn dưới hơn một dòng, lại rõ nghĩa và hay hơn. Ví dụ Évangile dịch là Phúc âm (chữ Hán) hay hơn Tin mừng (tiếng Việt). Không kể sự vô lý ở đoạn dưới: chưa chung sống thì sao gọi là vợ chồng? Bản tiếng Pháp phổ thông cũng ghi: “Marie, sa mère, était fiancée à Joseph” (Bà Marie, mẹ người, là vợ chưa cưới của Joseph)…” (Thụy Khuê, sđd, tr. 627-629).

Khốn nỗi, người viết có thể quả quyết hai điều về đoạn dịch nêu trên mà Thụy Khuê cho là của Phan Khôi để rồi sử dụng so sánh với bản dịch Công giáo. Đoạn dịch Kinh thánh nêu trên chắc chắn không thuộc bản dịch Phan Khôi, mà lại là của Cố mục sư Tiến sĩ Lê Hoàng Phu (1926-2003) (3) .

Bản diễn ý của Mục sư (quá cố) Lê Hoàng Phu

Trước hết, tuy bản dịch toàn thể Cựu ước và Tân ước mà Thụy Khuê đã dẫn từ “Thánh Kinh Hội quốc tế xuất bản và Văn phẩm Nguồn sống” phát hành năm 1994 nhưng riêng bản Tân ước thì đã do Lời hằng sống (The Living Bible) xuất bản trước đó ít nhất là từ năm 1982. Ngay trang đầu, người đọc sẽ có dịp thấy ba chữ đứng riêng “Bản diễn ý” ngay dưới dòng chữ “Thánh kinh Tân ước”. Nhờ ba chữ “Bản diễn ý” này mà chúng ta có thể biết chắc chắn người dịch không phải là Phan Khôi vì bản dịch Phan Khôi vẫn được tín hữu Tin lành gọi là “Bản dịch 1926” hay “Bản dịch truyền thống”. Trong truyền thống phiên dịch Kinh thánh Tin Lành Việt ngữ, tên người dịch không bao giờ được để vào sách, trừ phi là được các thư viện (đại học) chú thích để phân biệt các bản dịch khác nhau hay chỉ có mục đích nhằm bảo vệ bản quyền như trường hợp bản dịch của mục sư Đặng Ngọc Báu(4).

Cũng cần nói thêm rằng Lê Hoàng Phu là dịch giả duy nhất đã chuyển “(Tin lành theo) Ma-thi-ơ” thành “Mã-thi”. Mục sư Đặng Ngọc Báu, trong một bức thư phúc đáp người viết vào ngày 14-8-2012 tái xác nhận: “Bản dịch diễn ý đúng là do Cố mục sư Lê Hoàng Phu dịch với sự cộng tác của các em ông”. Ngoài ra, “Bản diễn ý Tân ước” với sách Mã-Thi cũng đã được tổ chức Biblica đưa lên mạng của họ dưới mục Vietnamese Bible với lời giới thiệu là “hoàn tất năm 1981”. Như vậy không còn hồ nghi gì nữa: bản dịch được Thụy Khuê trích dẫn là của Lê Hoàng Phu chứ không phải của Phan Khôi.

Nguyên văn bản dịch đoạn trên của Phan Khôi

Cũng chính vì nhầm bản Lê Hoàng Phu ra bản của Phan Khôi mà Thụy Khuê không biết rằng các bản dịch Tin Lành Việt ngữ khác cũng đã dùng chữ “chồng” trong đoạn ấy. Đây là bản dịch từ “nguyên bản Hy-bá-lai và Hy Lạp” của ủy ban Phiên dịch, Hội Kinh thánh Việt Nam, xuất bản tại Singapore, 2002:

“Sự giáng sinh của Chúa Cứu Thế Giê-su đã xẩy ra như sau: Ma-ri, mẹ ngài, đã đính hôn cùng Giô- sép, nhưng trước khi hai người chung sống, thì Ma-ri đã thụ thai do quyền phép Đức Thánh Linh. Giô-sép, chồng hứa của nàng là người có tình nghĩa…” (Ma-thi-ơ 1:18-19, tr. 1110, sđd).

Đây là bản dịch của mục sư Đặng Ngọc Báu, số hiệu “Bản dịch 2011-Ấn bản A”, Hoa Kỳ, 2011 cũng từ nguyên bản, xuất bản tại Hoa Kỳ, 2011:

“Sự giáng sinh của Đức Chúa Jesus Christ đã xẩy ra như thế nầy: Ma-ry, mẹ ngài, đã đính hôn với Giô-sép, nhưng trước khi hai người đến với nhau, nàng đã thụ thai bởi Đức Thánh Linh. Giô-sép, chồng nàng là một người có tình nghĩa…” (Tin Mừng theo Ma-thi-ơ 1:18-19, tr. l, sđd).

Và đây mới là bản dịch hầu như đã được công nhận của Phan Khôi, in tại Hà Nội, 1925. Bản này còn được phổ biến dưới tên gọi “Bản truyền thông” (hay “Bản 1926″ vì, theo giả thuyết của người viết và sự xác nhận trước đó của những tác giả khác như Phước Nguyên, bản dịch của Phan Khôi chính thức được Thánh Thơ Công hội cho phát hành vào năm 1926, gần 1 năm sau khi việc in ấn đã hoàn tất vào năm 1925 tại Hà Nội):

“Vả, sự giáng sanh của Đức chúa Jesus-Christ đã xẩy ra như vầy: Khi Ma-ri, mẹ Ngài, đã hứa gả cho Giô-sép, song chưa ăn ở cùng nhau, thì người đã chịu thai bởi Đức Thánh Linh. Giô-sép, chồng người là người có nghĩa…” (Ma-thi-ơ 1:18-19, tr. l, sđd).

Như vậy, Thụy Khuê đã vô tình chê Phan Khôi mà không biết! Cho nên, càng nên tránh việc phê phán bản dịch Tin Lành “hay hơn” bản dịch Công giáo (Thụy Khuê, sđd). Lý do đơn giản là những linh mục dịch giả chưa chắc đã không giỏi tiếng Hán (Việt). Đằng khác, một người từng tốt nghiệp Truyền đạo, từng được phong chức mục sư, từng giảng dạy và viết nhiều sách thần học như Lê Hoàng Phu (tác giả đoạn Mã-Thi mà Thụy Khuê đã dẫn) thì không dùng chữ Phúc âm chỉ vì “tiếng Hán” lại “hay hơn tiếng Việt” mà vì có thể chữ “Phúc âm” hàm chứa một ý nghĩa đầy đủ hơn về giáo lý Tin lành.

Sâu xa hơn, một vấn đề khác hết sức quan trọng cần được giải quyết qua thí dụ bằng sự nhầm lẫn của Thụy Khuê: Phan Khôi đã dịch toàn thể hay chỉ phần nào trong Kinh thánh Tin Lành Việt ngữ và tại sao có nơi lại cho biết là bản dịch đầu tiên này được phát hành vào năm 1925 (chứ không phải 1926) như Lê Hoàng Phu và một số bài viết về lịch sử phiên dịch đã cho biết và lại còn đề là phát hành “lần thứ hai” (chứ không phải thứ nhất)?

Phan Khôi đã dịch toàn thể hay chỉ phần nào trong Kinh thánh Tin Lành Việt ngữ?

Một trong những người nêu thắc mắc chính là ông Phan Nam Sinh, thứ nam của Phan Khôi. Mới đây, vào tháng 3-2012, trong bài về những nghi vấn xung quanh hai tác phẩm của Phan Khôi, Phan Nam Sinh trình bày vài suy nghĩ về Phan Khôi và Kinh thánh Tin Lành:

“Các sách hoặc bài viết về Phan Khôi gần đây đều có nhắc đến việc ông dịch “Kinh thánh” nhưng cũng chỉ nói chung chung mà không thấy ai khẳng định ông dịch phần nào hay dịch trọn bộ “Kinh thánh”. [...] Vậy Phan Khôi cộng tác với mục sư William C.Cadman dịch trọn bộ “Kinh thánh” hay chỉ dịch phần Tân ước như có người nói? Để trả lời câu hỏi này cần biết trọn bộ “Kinh thánh”, bản tiếng Việt, in tại Thượng Hải năm 1925, khổ 13 X 20cm có cả thảy 1397 trang; trong đó Cựu ước 1070 trang, Tân ước 327 trang, nghĩa là Tân ước chỉ chiếm chưa tới một phần tư “Kinh thánh”. Tôi không tin Phan Khôi chịu bỏ ra một quãng thời gian dài tới 5 năm chỉ để dịch hơn ba trăm trang sách (hơn 5 ngày cho 1 trang) dù cho đó là “Kinh thánh”, trong khi ông còn nhiều việc khác phải làm để kiếm sống và nuôi gia đình. [...] Độc giả khi biết Phan Khôi dịch “Kinh thánh” đều có chung băn khoăn, không biết ông dịch từ bản tiếng Pháp hay từ bản tiếng Hán? [...] Lại nữa, trang đầu “Kinh thánh” xuất bản tại Thượng Hải năm 1925 có ghi: “In lần thứ hai”. Sao lại là lần thứ hai trong khi chính Phan Khôi cho biết ông chỉ mới dịch xong “Kinh Thánh” vào năm này? Đấy là câu hỏi từng theo tôi nhiều năm mà chưa giải đáp được. Gần đây, nhân đọc báo Thanh niên số Xuân Nhâm Thìn thấy nói hồi ký của William C.Cadman cho hay: Hội Thánh Kinh Anh quốc xuất bản “Kinh Thánh” Tân ước tại Hà Nội năm 1923 và toàn bộ “Kinh Thánh” được xuất bản tại Thượng Hải vào năm 1926. Thế hóa ra khi xuất bản “Kinh Thánh” Tân ước tại Hà Nội thì gọi là “In lần thứ nhất” và khi xuất bản “Kinh thánh”, cả Cựu ước lẫn Tân ước tại Thượng Hải thì gọi là “In lần thứ hai”? Sao lại có chuyện kỳ lạ và thiếu khoa học đến vậy? Và liệu trí nhớ của ông mục sư có còn tin được không khi nói toàn bộ “Kinh thánh” xuất bản tại Thượng Hải năm 1926 trong khi cuốn “Kinh thánh” vốn là sở hữu của Phan Khôi mà tôi đang giữ cũng xuất bản tại Thượng Hải lại ghi rõ ràng là: “SOCIÉTÉ BIBLIQUE BRITANNIQUE ET ÉTRANGÈRE-SHANGHAI-1925”? (Hiệp hội Kinh Thánh Anh quốc và nước ngoài- Thượng Hải, 1925). Hay còn một cuốn “Kinh Thánh” in lần thứ ba khác nữa cũng xuất bản tại Thượng Hải vào năm 1926 như lời mục sư William C. Cadman? Chuyện cách nay chưa đầy 90 năm mà đã rắc rối như thế, liệu vài ba mưoi năm sau sẽ còn gây khó khăn đến đâu cho các nhà nghiên cứu? 25-3-2012 (Phan Nam Sinh, sđd).

Để ráng trả lời hai câu hỏi của ông Phan Nam Sinh, người viết sẽ trích dẫn các nguồn tài liệu sau đây: từ chính Phan Khôi qua những bài sưu tập của Lại Nguyên Ân (viết tắt PK-LNA); luận án tiến sĩ của Lê Hoàng Phu (LHP) với cả hai bản Anh Việt ngữ; The Call of French Indo-China (TCFI -Tiếng gọi Đông Dương) do Gospel Press, Hà Nội ấn hành từ 1922 tới 3-1934; The Alliance Weekly (TAW-Sợi giây liên hiệp hàng tuần, trong những năm 1920 và 1930 ấn hành tại New York hay Pennsylvania); một bản sao lá thư bốn trang ký ngày 5-4-1982 của J.S.Sawin có tiêu đề “Tóm tắt lịch sử dịch Kinh thánh sang tiếng Việt”, các tài liệu khác từ Thư viện Đại học Cornell (TC) và Thư viện Quốc gia Pháp (BNF). Nhưng quan trọng nhất vẫn là bản sao của 23 lá thư mục sư (truyền đạo) William Charles Cadman (vẫn được biết là W. C. Cadman) gửi cho Hội Truyền giáo Phước âm Liên hiệp (The Christian Missionary and Alliance) là hội gửi các mục sư truyền đạo tới Việt Nam để giảng Tin Lành. Qua những bức thư này, người đọc có thể hình dung những khó khăn mà ông (4-4-1883, Luân Đôn, Anh quốc – 30-11-1948, Đà Lạt) cùng với vợ là bà Grace Cadman (27-9-1876, Illinois, Hoa kỳ – 24-1-1946, Sài Gòn, Việt Nam) đã trải qua khi thành lập nhà in ngay tại Hà Nội rồi xúc tiến việc phiên dịch Kinh thánh Tin Lành sang Việt ngữ. Riêng việc phiên dịch này, ông bà Cadman đã bất chấp những khuynh hướng phiên dịch Kinh thánh khác để áp dụng chủ trương của chính ông bà, một chủ trương theo sát nguyên ngữ Hy Lạp hay Do thái và dịch thẳng từ bản Kinh thánh Anh ngữ (của Hội thánh Hoa Kỳ hay Anh quốc) hơn là qua bản dịch Pháp ngữ của bản Anh ngữ. Trong bức thư đề ngày 5-1-1924 gửi cho mục sư D. I Jeffrey, người lãnh đạo trường Kinh thánh và Hội thánh Tourane (Đà Nẵng), Cadman phát biểu như sau, sau khi đã tranh luận với Jeffrey (và có lẽ cả Hội Truyền giáo Phước âm Liên hiệp) về bản Kinh thánh ngoại ngữ nào phải được sử dụng để dịch sang tiếng Việt:

“Nhưng theo tôi, tâm điểm của vấn đề này là một ngày nào đó trong tương lai, nỗ lực của chúng ta tại Đông Dương phải có kết quả là một bản dịch được dịch thẳng từ những ngôn ngữ nguyên bản. (Bởi vì) một bản mà dịch ra từ một bản dịch khác thì luôn luôn sẽ có một sự mất chính xác, cho dù là bản dịch mới này có hay hơn. Bà Cadman cũng đồng ý với tôi trong vấn đề này” (W. C. Cadman, sđd)(5).

Tiếp đó, người viết cũng căn cứ những tìm hiểu của mình qua những cuốn Kinh thánh Tin Lành Việt ngữ(từ nay cũng gọi tắt là Kinh thánh) với 5 bản dịch khác nhau mà người viết hiện có trong tay: Bản dịch Cadman-Phan Khôi hay Bản dịch Truyền thống hoặc Bản dịch 1926 (BDPK) do Liên hiệp Thánh Kinh Hội (United Bible Societies) tái bản tại Hoa Kỳ; Bản dịch Tân ước Nhuận chánh-song ngữ Anh Việt do Hội Ghi- Đê-ôn Quốc tế (BDTNC -The Gideons International) phát tặng- không bán, Hoa Kỳ; Bản Tân ước Diễn ý hay Bản dịch Lê Hoàng Phu (BDTULHP) do Lời Hằng Sống ấn hành, 1987, Hoa Kỳ; và Bản dịch Phan Khôi, Liên hiệp Thánh Kinh Hội tái bản, 1998, Việt Nam (BDPK-VN). Riêng bản này khi đánh máy lại đã tự động sửa đổi nhiều chữ trong nguyên bản (thí dụ như chữ “nhơn” đổi thành “nhân”). Vài mạng ngoài nước vì đăng lại bản số hóa của bản dịch ấy cũng mắc vào lỗi trầm trọng này khiến sai lạc hẳn đi những chi tiết rất cần thiết để nhận dạng thời điểm và tác giả của bản dịch.Thêm vào đó, người viết cũng dùng tới Bản dịch 2011 (BDĐNB) đã xuất bản và đăng trên các diễn đàn trên mạng Internet. Tuy mục sư Đăng Ngọc Báu đã nhất quyết căn dặn trong thư rằng không nên nêu tên ông là tác giả mà cần ghi “Hội Kinh Thánh Việt ngữ”, chúng tôi mạn phép được ghi rõ như vậy riêng trong bài này để sự nghiên cứu và phân biệt các bản dịch được dễ dàng hơn.

Ngoài các bản Tin Lành tiếng Việt, chúng tôi còn đối chiếu với bản Công giáo do Linh mục Nguyễn Thế Thuấn dịch (Dòng Chúa Cứu Thế phát hành, 1978), cuốn New Revised Standard Version-The New Oxford Annotated Bible with the Apocryphal/Deuterocanoni- cal Books (Oxford University Press xuất bản, 1994) và thêm bản “King James” vốn là bản cổ điển mà các bản Anh ngữ khác dựa vào để hiệu đính.

Sau nữa, để cho thống nhất với ngôn ngữ mà Hội thánh Tin Lành Việt Nam sử dụng và để dễ bề cho người nghiên cứu khác kiểm chứng, chúng tôi giữ lại cách dịch mà chúng tôi đã thấy trên ấn phẩm hay Kinh Thánh đã được Hội Kinh Thánh Tin Lành Việt Nam xuất bản sau khi tham khảo thêm luận án của Lê Hoàng Phu cho chắc chắn hơn. Bởi thế, chúng tôi sẽ dùng Hội Truyền giáo Phước âm Liên hiệp (The Christian Missionary and Alliance-CM&A), Thánh thơ Công hội (The Bristish & Foreign Bible Society- BFBS), Thánh kinh Hội Liên hiệp (United Bible So- cieties-UBS), Thánh kinh Hội Quốc tế (International Bible Society -IBS), Thánh kinh Hội Mỹ quốc (The American Bible Society-ABS), Đông Pháp Phước âm An quán (Gospel Press, Hanoi, Tonkin- GP).

Người viết muốn chú thêm ngay tại đây rằng Đông Pháp Phước âm Ấn quán, dưới quyền điều động và sắp đặt của giáo sĩ W. C. Cadman, giữ một vị trí hết sức quan trọng trong lịch sử phiên dịch và ấn loát của Việt Nam chứ không riêng gì của Hội Thánh Tin lành vì đây là nơi đã in Kinh Thánh tiếng Việt và các ấn bản liên quan đến các sách trong Kinh Thánh hay giáo lý Tin Lành mà lời văn gọn ghẽ và đúng chính tả. Các sách do Đông Pháp Phước âm Ấn quán in và xuất bản điển hình là Thánh giáo biện nghi (102 trang, 1924), Thơ thánh hát ngợi khen Đức Chúa Trời trích lược (6 trang, 1924), Gỡ lưới Sa-Bát (2 bản, 30 hay 32 trang, 1938), Đến cùng Đức Chúa Jesus (40 trang, không rõ năm).

Sau đây, có mấy câu hỏi chinh cần được trả lời nếu đề cập đến vấn đề dịch Kinh Thánh Việt ngữ có liên quan đến Phan Khôi. Đó là, thứ nhất, Phan Khôi dịch theo bản Kinh Thánh ngoại quốc nào; thứ hai, Phan Khôi dịch phần nào hay dịch trọn bộ Kinh Thảnh và thứ ba, bản dịch Phan Khôi ấy xuất bản vào năm 1925 hay 1926 và tại sao lại ghi là “In lần thứ hai” mà không phải là lần thứ nhất? Sở dĩ chúng ta cần biết Phan Khôi dịch từ đâu là để hiểu rõ thêm và phân biệt các bản dịch sau này vì không thể đưa bất cứ bản nào ra như Thụy Khuê đã làm chỉ để so sánh, thậm chí khen chê. Về việc dịch kinh điển của một đạo giáo, Phan Khôi đã chỉ rõ trong bài của ông:

“Bởi vì có ở trong tông giáo ấy thì mới hiểu rõ được đạo lý để mà nói sang thứ tiếng khác. Nếu cái người ở trong tông giáo đó không thạo lắm về nghề làm văn thì phải nhờ đến người thạo nghề ở ngoài; nhưng người ngoài chẳng qua là vai phụ, còn vai chính bao giờ cũng phải lấy trong tông giáo, vì trong kinh điển, phần đạo lý là phần trọng hơn vậy.” (Phan Khôi, Bàn về việc dịch kinh Phật, báo Trung Lập, Sài Gòn, S.6532 – Phụ trương văn chương số 19, thứ bảy 5-9-1931; S.6538 – Phụ trương văn chương số 20, thứ bảy 12-9-1931 do Lại Nguyên Ân sưu tầm và in lại trong Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1931- Người viết in nghiên).

(Xem tiếp kỳ sau)

CHÚ THÍCH:

1. Trong bài George Whitman, người bán sách ở Paris và một phù tiêu văn hóa, đã tạ thế hưởng thọ 98 tuổi, bà Marlise Simons viết như sau: “George Whitman người sinh quán ở Hoa kỳ và là chủ nhân của tiệm sách ‘Shakespeare & Company’1…] đã qua đời vào ngày thứ tư [...] Ông tiếp đón người đến tiệm sách với một chiếc bảng treo trên tường có in câu nhắn nhủ bằng chữ lớn mà ông cho là của (thi sĩ) Yeats, dù thực ra, câu này là một sự biến thiên từ một đoạn trong Kinh thánh: ‘Chớ quên sự tiếp khách; có khi kẻ làm đều đó đã tiếp đãi thiên sứ mà không biết’…”

2. Thụy Khuê, Nhân Văn Giai Phẩm và Vấn đề Nguyễn Ái Quốc, Nxb Tiếng Quê Hương, Hoa Kỳ, 2012, tr. 625-629.

3. Mục sư Lê Hoàng Phu là trưởng nam của mục sư và bà Lê Văn Long, một trong những giáo sĩ tiên phong của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam. Ông tốt nghiệp Cao học tại Wheaton College, Illinois, 1967 và Tiến sĩ tại New York University, NY, 1972. Khi trở về, ông giữ chức Giám đốc Học vụ của Thần học Viện Nha Trang và đã soạn cũng như dịch rất nhiều sách về Thần học. Sau khi rời miền Nam sau 1975, ông định cư tại Whittier, California và tiếp tục công việc giảng dạy cũng như trước tác. Độc giả trong nước có thể đọc luận án Tiền sĩ bản Việt ngữ của ông tựa đề Lịch sử Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (1911-1965) do Nxb Tôn giáo ấn hành nhân Kỷ niệm 100 Năm Hội Thánh Tin Lành tại Việt Nam, 2011, 430 trang.

4. Mục sư Đặng Ngọc Báu, tốt nghiệp Thánh Kinh Thần học viện, Nha Trang và là dịch giả “Bản dịch 2011” Kinh Thánh Tin Lành, hiện đảm nhiệm chức vụ Giáo Hạt Trưởng của Giáo Hạt Đông Los Angeles (East District) của Giáo Phận Nam California và các lãnh thổ của Hoa Kỳ trong vùng Thái Bình Dương (California-Pacific Annual Conference). Ông lãnh đạo 82 hội thánh Giám Lý Mỹ từ Alhambra đến Palm Springs/Indio. Nhân đây, người viết xin được cảm tạ sự góp ý cũng như chỉ bảo của ông trong vấn đề này.

5. “[•••] But to me the whole crux of the matter is that some future day our Indochina work should have its Bible translated direct from the original languages. There are always a loss of exactness by translating from a translation, however good the latter may be. Mrs. Cadman feels with me in this matter…” (W. c. Cadman, sđd – Những chữ trong phần dịch có ngoặc đơn, nếu có, là của người viết).

Ngày 11 tháng 5 năm 2013, Hội nghị Ban Chấp hành Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam lần thứ 4 – khóa VI đã tổ chức tại Hà Nội. Tham dự hội nghị gồm các ủy viên Ban Chấp hành, đại diện các tổ chức thành viên, đại diện Ban Chấp hành những Hội mới thành lập và các vị khách mời. Hội nghị do Chủ tịch Hội – GS. Phan Huy Lê chủ trì.

Hội nghị đã nghe Báo cáo hoạt động của Hội năm 2012-2013 và phương hướng hoạt động năm 2013-2014 của Ban Thường vụ do Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Dương Trung Quốc trình bày, báo cáo bổ sung của Qũy Phát triển Sử học Việt Nam, Ban Khoa học, Ban Quan hệ quốc tế và một số ủy viên Ban Thường vụ.

Sau khi thảo luận, Hội nghị đã nhất trí thông qua Nghị quyết sau đây:

  1.  Thông qua Báo cáo hoạt động năm 2012-2013 và phương hướng hoạt động năm 2013-2014 của Ban Thường vụ, giao Ban Thường vụ bố sung, hoàn chỉnh báo cáo trên cơ sở ý kiến thảo luận của Hội nghị Ban Chấp hành trước khi công bố.
  2. Bổ sung vào Ban Chấp hành nhiệm kỳ VI:

- Ông Lê Văn Thỉnh, Chủ tịch Hội KHLS tỉnh Khánh Hòa

- Ông Ngô Văn Diện, Chủ tịch Hội KHLS tỉnh Bắc Ninh

- Ông Nguyễn Xuân Kỳ, Chủ tịch Hội KHLS tỉnh Thanh Hóa

- Ông Hồ Khang, Phó Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự.

  1. Ủy nhiệm Ban Thường vụ thay mặt Ban Chấp hành kiến nghị lên cấp lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước, Chính phủ về việc tố chức nghiên cứu, công bố và chuẩn bị kỷ niệm 35 năm Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Tây Nam và biên giới phía Bắc (1979-2014).
  2. Về phương hướng hoạt động năm 2013-2014, cần chú ý mấy hoạt động sau:

- Tổ chức lại Website của Hội, đề nghị Quỹ Phát triển sử học Việt Nam tài trợ một phần kinh phí.

- Tiếp tục vận động để Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam và các Hội thành viên được công nhận là tổ chức xã hội đặc thù.

- Trong các hội thảo khoa học, cần ưu tiên tổ chức tốt những hội thảo sau: Hội thảo kỷ niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (phối hợp với Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội), hội thảo “Việt Nam trong lịch sử thế giới” (Hội Sử học thế giới phối hợp với Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Đại học Hawai tổ chức vào tháng 12-2013), hội thảo về “Quảng Trị – Đất dựng nghiệp của chúa Nguyễn Hoàng” (do UBND tỉnh Quảng Trị phối hợp với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Viện Sử học Việt Nam tổ chức vào tháng 9/2013), hội thảo Bảo tồn di sản văn hóa trong bối cảnh đô thị hóa, công nghiệp hóa và hiện đại hóa của đất nước hiện nay.

                                                                                       Hà Nội, ngày 11 tháng 5 năm 2013

TM.BAN CHẤP HÀNH HỘI KHOA HỌC LỊCH SỬ VN 

                                                                                                           CHỦ TỊCH

                                                                                              GS. NGND, Phan Huy Lê

Bài viết trên đã bị xóa, khi tin tặc cướp blog Việt sử ký vào tháng 3/2013, nhưng được độc giả lưu lại trên một blog, nay đăng lại, nên các phản hồi ban đầu không còn.

Nguyễn Tà Cúc

Công trình phiên dịch Kinh thánh Tin lành Việt ngữ của Phan Khôi và một vụ nghi án văn học trong Văn học Miền Nam

biên khảo

 

Mặt trời khác nào người tân lang  ra khỏi phòng huê chúc,

Vui mừng chạy đua như người dõng sĩ.

Mặt trời ra từ phương trời nầy,

 Chạy vòng giáp đến phương trời kia;

Chẳng chi tránh khỏi hơi nóng mặt trời được

                                                                                     (THI-THIÊN 19: 5,6)

 

Trong loạt bài Phan Khôi và Công trình phiên dịch Kinh thánh Tin lành Việt ngữ, người viết đã xác định được một cách tương đối chính xác Phan Khôi đã dịch các sách nào trong Kinh Thánh Tin lành Việt ngữ dưới sự cố vấn của ông bà (nhất là bà) Mục sư W. C. Cadman. Theo những tài liệu mà chúng tôi thu thập và phân tích thì Phan Khôi đã dịch từ sách Thi Thiên cho tới hết Cựu Ước (trang 637-1070) rồi sang qua Tân Ước (trang 1-327). Sự hợp tác giữa hai nhà truyền giáo và một cây bút Việt Nam không những đã góp phần vào lịch sử báo chí Việt ngữ thời còn phôi thai lúc bấy giờ vì không những Hội thánh Tin lành Ðông Pháp có một tờ báo in ngay ở ấn quán của họ, mà còn để lại những đoạn dịch hết sức thơ vì dịch giả chính là một tác gia nổi tiếng, Phan Khôi. Chúng tôi đã viết ở đoạn kết một bài trước:

-“Có thể nói không ngoa, bản Cadman-Phan Khôi là một bản dịch văn chương, chứ không chỉ tuyền tôn giáo trong lịch sử phiên dịch của chúng ta, nhất là khi người dịch chính là Phan Khôi. Bởi thế, bản dịch này mới dẫn đến một vụ nghi án văn học của thế kỷ XX liên quan đến một nhà thơ Miền Nam..."  

Nhà thơ Miền Nam đó là bà Nhã Ca và hai bài thơ trong vụ nghi án văn học này là “Ðàn bà là mặt trời” và Một đoạn Nhã Ca”. Cả hai bài xuất hiện lần đầu trong cuốn Thơ Nhã Ca do nhà xuất bản Thương Yêu, Hiện Ðại tổng phát hành, tháng bảy 1972, Sài gòn. Năm 1999, Thơ Nhã Ca được Vietbook USA tái bản tại Hoa Kỳ với nhan đề Nhã Ca Thơ tại Hoa Kỳ mà trong đó  “Ðàn bà là mặt trời” và Một đoạn Nhã Ca” tái xuất hiện.

Trước khi trình bày chi tiết, có hai điều nổi bật mà một người có dịp đọc cả hai cuốn Kinh Thánh Tin lành Việt ngữ (từ nay sẽ gọi tắt là Kinh thánh) và Thơ Nhã Ca (gồm hết cả đời thơ của tác giả, tổng cộng khoảng 51 bài) sẽ nhận ra ngay. Thứ nhất, nhiều chữ đặc biệt của Phan Khôi bị lấy nguyên văn như “ái tình tôi”, “người nữ”, “kỳ mạng”, “lương nhơn” vv nghĩa là những chữ sẽ không thấy ở 49 bài còn lại. Thứ hai, đó chính là tâm điểm của vụ nghi án văn học như sẽ mở rộng ra sau đây: khi lấy chữ, câu và/hay ý của một tác giả/tác phẩm khác mà không ghi rõ xuất xứ, sự trùng hợp bất thường ấy có thể bị coi như cố ý, nghĩa là “đạo văn”.

Một người tự nhận là nhà thơ như bà Nhã Ca có lẽ không thể không thấy nhiều thí dụ của cái “lễ” bất thành văn mà giới cầm bút dành cho nhau khi lấy chữ người khác. Gần thì có Tô Thùy Yên. Trong Thơ Tuyển (tác giả xuất bản, Minnesota, 1995), ông chú hai câu thơ của Nguyễn Gia Thiều mà ông đã dùng mấy chữ làm tựa cho bài thơ “Giấc hoành môn” (trang 175, sđd): “‘Cùng nhau một giấc hoành môn/Lau nhau ríu rít cò con cũng tình’, Nguyễn Gia Thiều”. Xa thì có Hồ Dzếnh với bài “Mẫu đơn” mà ông liệt kê hai câu ca dao làm bằng “‘Mẫu đơn ở cạnh nhà thờ/Ðôi ta trinh tiết đợi chờ lấy nhau’, Ca dao” (Hồ Dzếnh, Quê ngoại, II-Tiếng hát thiên nga, Thanh văn xuất bản, 1993, Hoa Kỳ). Cũng không xa lắm thì có Đinh Hùng với cuốn Ngày đó có em... (Những bóng dáng đàn bà trong đời Bích-Khê) do Giao Điểm xuất bản tại Sài gòn, 1967 mà ông chú mấy câu ngay trên đầu sách: "Ngày đó có em đi nhẹ vào đời/và đem theo trăng sao đến với lời thơ nuối/ ngày đó có anh mơ lại mộng ngời/ và se tơ kết tóc giam em vào lòng thôi" của Phạm Duy.

Ngay trong Tạp chí Gió-O, người đọc cũng thấy ngay một thí dụ điển hình của truyền thống đáng yêu ấy qua một người thuộc thế hệ sau và viết sau thế hệ bà Nhã Ca: đó là Lê Thị Huệ với bài Hiểu thấu điêu tàn mà tác giả kèm 1 câu của nhạc sĩ Trần Quang Lộc ngay khi vào bài: "Làm sao em hiều thấu /trong lòng anh điêu tàn." Hai chữ "điêu tàn" này rất phổ thông, có thể Lê Thị Huệ cũng không cần trích ra làm gì, nhưng chính vì tác giả trích ra mà người đọc "hiểu thấu" hơn nỗi lòng của người viết. Lê Thị Huệ cũng đã chứng minh rằng mượn một chữ không phải là vì người ta thiếu chữ. Cái chữ ấy nó chỉ  khởi đầu cho một cái ý "mang mang thiên cổ lụy" để tác giả dẫn đến một nỗi sầu hận long đong trùm ngập cả đất trời trước khi báo cho người đọc biết cái "điêu tàn" này ngậm một ý gì trong tâm cảnh tác giả. Cái "điêu tàn" của Lê Thị Huệ đương nhiên không phải là cùng cái "điêu tàn" của Trần Quang Lộc, vì ý đã khác mà chữ chính ra cũng đã khác. Cái "điêu tàn" của Lê Thị Huệ là cái "Điêu tàn Lành[...]Nó vạm vỡ cái Sống Sót [...] Nó hữu thể sự Lành..." Nó là một sự "điêu tàn" đầy nghĩa khí, một sức sống vượt lên từ bao nhiêu địa ngục gây ra bởi những cái mà người ta cứ tưởng là không "điêu tàn", như cái hòm kính choáng lộn của ông Hồ Chí Minh vẫn còn nằm vật vã ở Ba Đình.

Bởi thế, quả là một sự kinh ngạc khi người viết tình cờ nhận ra quá nhiều trùng hợp giữa hai bài "thơ" trên của bà Nhã Ca và Kinh thánh. Chỉ mượn dăm chữ mà còn phải cẩn thận như thế, huống chi không biết bao nhiêu là chữ, là ý, là câu mà đã không những không đặt trong ngoặc kép-- một thứ luật bất thành văn khác mà người cầm bút nào cũng phải tuân theo-- để biểu thị sự vay mượn mà lại còn không bao giờ có kê xuất xứ như trường hợp 2 bài trên?

I- Tài liệu kiểm chứng

Khi đưa ra vụ nghi án văn học này, người viết dư hiểu rằng cần có bằng chứng không những phải đầy đủ mà còn dư dả hơn nữa để công bằng cho bà Nhã Ca, hiện sinh sống tại Hoa Kỳ, nhắm cho bà ta nhiều hơn một cơ hội để phản bác. Người viết đã sử dụng các tài liệu sau đây để kiểm chứng khiến dẫn đến kết luận nói trên:

1) Thơ Nhã Ca (Nhã Ca, Thương Yêu xuất bản, 1972, Sài gòn)

Tuy người viết cũng có cuốn Nhã Ca Thơ (Nhã Ca, Vietbook USA- tái bản Thơ Nhã Ca , 1999, Hoa Kỳ) nhưng người viết sử dụng cuốn trước giản dị chỉ vì cuốn trước đã được Diễn đàn Talawas số hóa và do đó, độc giả có thể kiểm chứng các tài liệu do người viết đưa ra trong bài. Cần nói thêm là bà Nhã Ca đã có hoàn chỉnh một số bài thơ vào lần xuất bản sau, nhưng không đủ quan trọng để bàn đến trong lượt này. Thơ Nhã Ca gồm ba phần. Cả hai bài "Đàn bà là mặt trời" và "Một đoạn Nhã Ca" đều được xếp vào "Phần Ba-Thơ cho tình ta".  "Đàn bà là mặt trời" gồm 108 câu, trang 128-136. "Một đoạn Nhã Ca" gồm 126 câu, trang 137-147.

2) "CÁC SÁCH VĂN-THƠ- SÁCH của GIÓP (trang 594-636), THI-THIÊN (trang 637-743), SÁCH CHÂM- NGÔN (trang 744-779), SÁCH TRUYỀN ĐẠO (trang 780-789), NHÃ CA của SA-LÔ-MÔN (trang 790-796); Cựu Ước- Kinh Thánh Tin Lành Việt ngữ, Thánh thơ Công hội xuất bản, Saigon, In lần thứ tám, 1963)

Thơ Nhã Ca xuất bản vào năm 1972 nên người viết dùng cuốn Kinh thánh-Bản dịch Cadman& Phan Khôi (vẫn được tín hữu Tin lành gọi là Bản dịch Truyền thống hoặc Bản dịch 1926) cũng xuất bản tại Saigon để đối chiếu hầu công bằng cho bà Nhã Ca, dù rằng mọi cuốn tái bản sau đó, dù là ngoài nước (như cuốn xuất bản năm 1976 tại Hoa Kỳ mà người viết được tặng vào tháng 10. 1976) đều được chụp từ nguyên bản mà không sắp chữ lại nên mọi số trang đều giữ nguyên như cũ. Độc giả tại Việt Nam sau 1975 nếu không có phương tiện đọc trên Talawas hay không có các cuốn Kinh thánh do Thánh thơ Công hội hoặc Thánh kinh Hội Việt Nam xuất bản, vẫn có thể đọc Bản dịch Cadman&Phan Khôi nhưng chỉ khác số trang vì đã được sắp chữ và trình bày lại (Kinh thánh Cựu Ước và Tân Ước-Các Sách Văn thơ,  trang 470-636) do Liên hiệp Thánh Kinh Hội đảm trách, Nhà xuất bản Hà Nội, 1998, Việt Nam.

II- "Đàn bà là mặt trời" và Sách NHÃ CA của SA-LÔ-MÔN, Kinh thánh

Chính sự thiếu liêm khiết trí thức của bà  Nhã Ca mà đã dẫn đến một sự kiện khôi hài có thể coi như một giai thoại trong làng làm sách. Ðó là việc một tuyển tập thơ Nữ lại có lọt vào chữ của một nhà thơ đàn ông (Phan Khôi). Không hiểu Thúy Bắc, Ðoàn Hương, Ðỗ Bạch Mai, Xuân Tùng, Bế Kiến Quốc, Nguyễn Trác—những người nhận trách nhiệm tuyển chọn cho cuốn Thơ Nữ Việt Nam Tuyển chọn: 1945-1995 (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1994, Việt Nam)--có đọc Kinh thánh hay không mà tuyển ngay bài “Ðàn bà là mặt trời” vào tập này? Hãy đọc sơ vài thí dụ mà người viết có kèm thêm số trang từ cuốn Thơ Nhã Ca để người đọc tiện theo dõi:

1) Nguyên bản: “Người nữ nầy là ai, hiện ra như rạng đông, Ðẹp như mặt trăng, tinh sạch như mặt trời, Ðáng sợ khác nào đạo quân giương cờ xí.” (NHÃ CA của SA-LÔ-MÔN, 6:10, Kinh thánh Tin Lành Việt ngữ-Bản Cadman&Phan Khôi, trang 794)

-“Hỡi các chị, chúng ta đều đẹp như mặt trời/tinh khiết như bình minh.” (Bà Nhã Ca, “Ðàn bà là mặt trời”, câu 3, 4, Thơ Nữ Việt Nam Tuyển chọn, trang 283-Thơ Nhã Ca, câu 3, 4, trang 128)

Trong cuốn Nhã Ca Thơ (tái bản) bà Nhã Ca đổi chữ "đẹp" thành chữ "sáng" (trang113) nhưng sự vay mươn không vì thế mà giảm đi.

2) Nguyên bản: “Ðôi má mình đẹp với đồ trang sức; Cổ mình xinh với hột trân châu.” (NHÃ CA của SA-LÔ-MÔN, 1:10, sđd, trang 790)

-“trân châu cùng ngọc bích/để trang điểm cho chúng ta đẹp đẽ.” (Bà Nhã Ca, câu 42, 43; sđd, trang 285- Thơ Nhã Ca, câu 42, 43, trang 131)

3) Nguyên bản: “[…] Lòng ghen hung dữ như Âm phủ; Sự nóng nó là sự nóng của lửa.” (NHÃ CA của SA-LÔ-MÔN, 8:6, sđd, trang 795)

-“Tôi…nóng hơn lửa/Chúng ta có lòng ghen mạnh như bão.” (Bà Nhã Ca, câu 58, 85, sđd, trang 285-286- Thơ Nhã Ca, câu 58-trang 132; câu 85, trang 134)

3) Nguyên bản: “Ái tình mình ngon hơn rượu.” (NHÃ CA của SA-LÔ-MÔN, 4:10, sđd, trang 792)

-“Ðể tôi làm ra ái tình và rượu ngọt.” (Bà Nhã Ca, câu 102, sđd, trang 287- Thơ Nhã Ca, câu 102, trang 136)

Những thí dụ ấy dù sao vẫn có thể chưa thuyết phục được nên người viết sẽ trình bày cặn kẽ về “Một đoạn Nhã Ca”, bài thứ hai trong nghi án này.

III- Bài “Một đoạn Nhã Ca” (Nhã Ca) và CÁC SÁCH VĂN-THƠ -Cựu Ước, Kinh Thánh

Như đã trình bày trong các bài trước, ngoài các tín hữu Tin Lành Miền Nam, cuốn Kinh thánh ít được phổ biến ra ngoài nên sự trá hình ấy mới có dịp phát sinh một cách quá ngang nhiên. Phải nói rằng bà Nhã Ca hẳn phải đặc biệt yên tâm về sự thiếu phổ biến đó cho nên không những đã lấy nguyên văn mà còn cắt xén rồi lộn lạo trong nguyên bản suốt các cuốn được mệnh danh là “các sách văn thơ” như SÁCH của GIÓP, THI-THIÊN, SÁCH CHÂM- NGÔN, SÁCH TRUYỀN ĐẠO, NHÃ CA của SA-LÔ-MÔN của Cựu Ước- Kinh thánh để đem chúng vào “Một đoạn Nhã Ca”:

1 - Lấy nguyên văn từ Các Sách Văn thơ của Cựu Ước, Kinh Thánh

1) Nguyên bản: “Các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Ðức Chúa Trời/…/Ngày nầy giảng cho ngày kia/Ðêm này tỏ sự tri thức cho đêm nọ.” (THI-THIÊN, 19:1,2, Cựu Ước-Kinh Thánh, trang 647)

-“đang rao truyền sự vinh hiển của hạnh phúc/…/ ngày hãy giảng nghĩa cho đêm / ánh sáng rù rì cho bóng tối” (Bà Nhã Ca, “Một đoạn Nhã Ca”, câu 3,5,6, Thơ Nhã Ca, trang 137)

2) Nguyên bản: “Nguyện sự tối tăm mịt mịt…/…bế cửa lòng hoài thai ta” (SÁCH của GIÓP, 3:6, 10, sđd, trang 596)

-“tôi nguyện sự tối tăm mù mịt/bế lòng hoài thai (Bà Nhã Ca, câu 12, 13, sđd, trang 138)

3) Nguyên bản: “Và tôi rên siết trọn ngày” (THI-THIÊN, 32:3, sđd, trang 656)

-“tôi […]rên siết, rên siết  mãi” (Bà Nhã Ca, câu 14, 17, sđd, trang 138)

4) Nguyên bản: “mạng sống tôi tiêu hao vì cớ buồn bực/…/sức mạnh tôi mỏn yếu …/Thật một sự ô nhục lớn cho kẻ lân cận tôi…/Kẻ nào thấy tôi ở ngoài đều trốn khỏi tôi/Tôi bị chúng quên đi như kẻ chết” (THI-THIÊN, 31:10, 11, 12, sđd, trang 655)

-“Dẫu tôi sức yếu mỏng hao mòn vì buồn rầu/dẫu sự ô nhục bắt đầu vào lẩn trốn trong tôi/tôi bị quên đi như kẻ chết/ (Bà Nhã Ca, câu 27, 28, 29, sđd, trang 139)

5) Nguyên bản: “Nhưng trong lòng có sự giặc giã…” (THI-THIÊN, 55:21, sđd, trang 674)

-“Tôi sẽ có trong lòng đầy giặc giã” (Bà Nhã Ca, câu 32, sđd, trang 140)

6) Nguyên bản: “Từ bốn phía sự kinh khủng…” (SÁCH của GIÓP, 18:11, sđd, trang 611)

- “vì mọi phía luôn luôn có sự kinh khủng” (Bà Nhã Ca, câu 35, sđd, trang 140)

7) Nguyên bản: “Ðức Giê-hô-va là hòn đá tôi…” (THI-THIÊN, 18:2, sđd, trang 645),

 “Kỳ mạng tôi…” (THI-THIÊN, 31:15, sđd, trang 655)

-“những hòn đá kỳ mạng…” (Bà Nhã Ca, câu 40, sđd, trang 140)

8) Nguyên bản: “…chúng nó trở lại tru như chó” (THI-THIÊN, 59: 6, 14, sđd, trang 677)

-“…đôi khi tru điên như chó sói…” (Bà Nhã Ca, câu 89, sđd, trang 144)

9) Nguyên bản: “Môi chân thật được bền đỗ đời đời/Song lưỡi giả dối chỉ còn một lúc mà thôi” (SÁCH CHÂM-NGÔN, 12:19, sđd, trang 757) và “Còn ân dịch người như sương móc xuống trên đồng cỏ” (SÁCH CHÂM-NGÔN, 19:12, sđd, trang 765)

-“Chồi chân thực sẽ mọc đời đời/nhưng lưỡi gian dối cũng sẽ đâm chồi mãi/còn ân nghĩa là sương móc gieo xuống cánh đồng/” (Bà Nhã Ca, câu 109, 110, 111, sđd, trang 146)

2- Cắt xén nguyên bản:

Ngoài nguyên bản, còn những chỗ bà Nhã Ca đã lấy những chữ của Phan Khôi hay thay đổi rất ít hoặc bẻ vẹo đi từ nhiều câu và ý từ nhiều nơi khác nhau để lấy chữ và ý rồi xén, rồi chắp, rồi luồn nhắm xen kẽ thêm với những ý khác của chính mình nhưng vẫn không giấu được cái gốc của nguyên bản nếu người đọc quen thuộc với Bản dịch Cadman&Phan Khôi. Ðây là vài thí dụ điển hình:

1) Nguyên bản: “Tôi thao thức, tôi giống như. Chim sẻ hiu quạnh trên mái nhà” (THI- THIÊN, 102: 7, sđd, trang 709)

-“dẫu tôi quạnh hiu như loài hưou trên núi cao/như con tê giác nhẵn sừng hùng hổ/hay con chim sẻ trốn trên mái nhà.” (Bà Nhã Ca, câu 21, 22, 23, sđd, trang 138)

Ở đoạn này, bà Nhã Ca đã xén chữ hiu quạnh và chim sẻ ra làm 2 câu khác nhau, rồi cộng thêm một câu xem ra rất vô nghĩa là “tê giác nhẵn sừng hùng hổ” chỉ vì có lẽ đã thấy chữ “sừng” xuất hiện nhiều lần trong THI- THIÊN. Trong Kinh Thánh, “sừng” là một biểu tượng của cả xấu lẫn tốt tùy từng trường hợp, nhưng trong sách THI -THIÊN, “sừng” thường được sử dụng như một biểu tượng của sự ban ơn phước của Ðức Giê-hô-va như trong ;“[…] Sừng người sẽ được ngước lên cách vinh hiển” (THI-THIÊN, 112: 9, trang 720, sđd ) hay một sự cảnh cáo cho những kẻ kiêu ngạo, gian ác: “Tôi nói cùng kẻ kiêu ngạo rằng: Chớ ở cách kiêu ngạo; Lại nói cùng kẻ ác rằng: Chớ ngước sừng lên; Chớ ngước sừng các ngươi cao lên…” (THI-THIÊN, 75: 4,5, sđd, trang 690). Theo ý nghĩa đó, đã “nhẵn sừng” (nghĩa là đã bị Chúa trừng phạt thì không cách nào còn hùng hổ được). Nếu không, thì hình ảnh một con tê giác “hùng hổ” cũng đi ngược lại hình ảnh của một con hươu “quạnh hiu” và một con chim sẻ đang “trốn” trong cùng một đoạn thơ. Sự mâu thuẫn và vô nghĩa của một con “tê giác nhẵn sừng” xuất hiện rất vu vơ như vậy càng chứng tỏ sự lệ thuộc vào những hình tượng thuộc Kinh Thánh mà người mượn không thấu triệt được ý nghĩa.

2) Nguyên bản: “Vì miệng kẻ ác và miệng kẻ gian lận […]Vây phủ tôi bằng lời ghen ghét” (THI -THIÊN, 109: 2,3, sđd, trang 718)

-“Hỡi những gian dối và kẻ ác/không ngừng vây hãm hạnh phúc tôi” (Bà Nhã Ca, câu 48, 49, sđd, trang 141)

Một lần nữa, người đọc có thể thấy bà Nhã Ca đã đảo các chữ “kẻ ác” và “kẻ gian lận” rồi thay chữ “phủ” bằng chữ “hãm”.

3) Nguyên bản: “Các kẻ làm ác há chẳng hiểu biết sao? Chúng nó ăn nuốt dân ta khác nào ăn bánh,” (THI-THIÊN, 53: 4, sđd, trang 673)

-“hạnh phúc nuốt tội ác ngon lành khác nào ăn/ chiếc bánh kem.” (Bà Nhã Ca, câu 83, 84, sđd, trang 143)

4) Nguyên bản: “Kẻ ác đã tra tay trên những người ở hòa bình cùng nó; Nó đã bội nghịch giao ước mình. Miệng nó trơn láng như mỡ sưã…” (THI-THIÊN 55: 20, 21, sđd, trang 674)

-“còn tội ác cứ ngọt ngào trơn lu chói sáng.” (Bà Nhã Ca, câu 85, sđd, trang 143)

5) Nguyên bản: “[…] Nhưng thật là những thanh gươm trần.” (THI-THIÊN 55: 21, sđd, trang 674)

-“đời sống có gươm dao” (Bà Nhã Ca, câu 87, sđd, trang 144)

6) Nguyên bản: “Và lưỡi chúng nó khác nào gươm nhọn bén…” (THI-THIÊN 57:4, sđd, trang 675)

-“và chiếc lưỡi nhọn hoắt” (Bà Nhã Ca, câu 88, sđd, trang 144)

-“ăn cả chiếc lưỡi nhọn hoắt…” (Bà Nhã Ca, câu 96, sđd, trang 144)

7) Nguyên bản: “Cũng hãy khoái lạc nơi Ðức Giê-hô-va…” (THI-THIÊN 37: 4, sđd, trang 660)

-“khoái lạc chàng …” (Bà Nhã Ca, câu 113, sđd, trang 146)

Thậm chí đoạn kết bài “thơ” này cũng không tránh khỏi một sự vay mượn rõ ràng:

8) Nguyên bản: “Hỡi kẻ làm ác, hãy lìa khỏi ta”  (THI-THIÊN 119: 115, sđd, trang 727)

-“Hỡi những kẻ ác […] chào vĩnh biệt nhé.” (Bà Nhã Ca, câu 123, 126, sđd, trang 147)

Sau khi chứng kiến sự lục lạo của bà Nhã Ca để dễ bề sử dụng từ nguyên bản cho tới ý và cả chữ của Bản dịch Cadman-Phan Khôi,  người viết lại càng kinh ngạc khi thấy 3 đoạn ngắn trích dẫn từ sách NHÃ CA của SA-LÔ-MÔN đặt ngay vào đầu cuốn Nhã ca mới (xuất bản năm 1964, Sàigon dưới tên Trần Thy Nhã Ca) lại có những lỗi lầm quá trầm trọng. Những lỗi ấy chứng tỏ bà Nhã Ca không hề có một sự tìm hiều nghiêm chỉnh nào về Kinh thánh khiến cái nghi án văn học kia càng đậm nét hơn. Người viết thí dụ bằng đoạn trích dẫn thứ ba (trang 23, sđd) có những chỗ sai lầm nói lên sự cẩu thả không nên có của một người không những mang danh là “nhà thơ” mà lại còn (cả gan) lấy tên của một sách trong đó làm bút hiệu. Ðây là nguyên bản từ sách NHÃ CA của SA-LÔ-MÔN, Cựu ước:

-“Hãy để tôi như một cái ấn nơi lòng chàng

Như một cái ấn trên cánh tay chàng;

Vì ái tình mạnh như sự chết,

Lòng ghen hung dữ như Âm phủ;

Sự nóng nó là sự nóng của lửa

Thật một ngọn lửa của Ðức Giê-hô-va”
                                                                   (NHÃ CA của SA-LÔ-MÔN 8:6, sđd, trang 795)

 

Còn đây là đoạn  do bà Nhã Ca trích dẫn:

-“Hãy để tôi như một cái ấn trong lòng chàng

"Như một cái ấn trên tay chàng;

"Vì ái tình mạnh mẽ như sự chết,

"Vì lòng ghen tàn bạo như điạ ngục

"Vì đó là sức nóng của lửa

"Và vì ngọn lửa đó của Ðức Giê hô Va
                                                              (Trần Thy Nhã Ca, Nhã ca mới, Sàigon, trang 23 -
                                                           Người viết in ngả những chữ sai hay thừa so với nguyên bản.)

Không những Nhã Ca-Trần Thy Nhã Ca đã không cần để tâm học hỏi cách trích Kinh Thánh (phải chỉ rõ số đoạn và câu) mà quan trọng hơn, đã làm hỏng Bản dịch Cadman&Phan Khôi một cách vô ý thức khi làm mất sức mạnh của nguyên bản vì có những chữ thừa hay thay đổi hằn. Phan Khôi hẳn phải có lý do để chọn chữ “âm phủ” thay cho “điạ ngục” vì ý nghĩa, hình tượng và âm thanh gợi ra của hai chữ này có khác nhau. Sau nữa, từ "Lòng ghen hung dữ như Âm phủ" (Phan Khôi) sang đến "lòng ghen tàn bạo như điạ ngục " (bà Nhã Ca) là một sự hụt hơi chỉ vì bà Nhã Ca đã sử dụng những chữ quá tầm thường không chuyên chở nổi một trong những tình cảm dữ dội nhất của phụ nữ. Trên hết thẩy, vẫn là sự tôn trọng tuyệt đối nguyên bản dù là có trái với lối suy nghĩ thông thường. Nếu không, người khác sẽ khó thể dò theo để tìm hiểu thêm hay kiểm chứng tài liệu.

Vì nghi án này liên quan đến Văn học Miền Nam, người viết cũng nhân đây mở một dấu ngoặc để có một đề nghị cụ thể nhắm giúp thêm phần dễ dàng cho giới biên khảo và độc giả nhất là khi Văn học Miền Nam đang được giới nghiên cứu trong nước đặc biệt quan tâm: các nhà văn Miền Nam nào đã đoạt giải Văn học Nghệ thuật của Việt Nam Cộng Hòa cần ghi rõ đã đoạt giải thứ mấy và năm nào. Trong các tác phẩm (như Nhã Ca Thơ, 1999) mà người viết có dịp đọc, Nhã Ca cho biết rất mơ hồ rằng đã được “trao Giải Thi Ca Toàn quốc” nhưng không nói rõ là giải thứ mấy và năm nào. Theo Hồ Trường An, Nhã Ca đoạt giải “đồng hạng” cùng nhà thơ Tuệ Mai và một người nữa về Bộ môn Thơ vào năm 1967 (Hồ Trường An, Giai thoại hồng-Ký sự văn học, trang 245). Theo những nguồn tin khác thì năm đoạt giải là 1966 chứ không phải 1967. Về Bộ môn Văn thì chắc chắn vào năm 1970, Nhã Ca được trao giải ba- 50.000 đồng với Giải Khăn sô cho Huế, sau giải nhất- 200.000 đồng Tuý Hồng với Những sợi sắc không và giải nhì-100.000 đồng Thụy Vũ với cuốn Khung rêu (Khởi Hành Bộ Cũ, “Thời sự Nghệ thuật”, trang 2, ngày 4.2.1971). Nếu đúng như thế, Nhã Ca không bao giờ đoạt giải nhất nào hết.

Trớ trêu thay, điều quan trọng nhất là dù có đoạt bao nhiêu giải thưởng hay đã viết bao nhiêu tác phẩm, từ nay trở đi, rồi ra một nghi án văn học sẽ đeo đuổi bút hiệu của Nhã Ca đời đời vì nó chỉ rành rành vào ngay cái nguồn NHÃ CA của SA-LÔ-MÔN –Kinh Thánh. Sách này là một trong những thiên tuyệt tác của nguồn trí tuệ mạnh mẽ mà vô cùng hoa mỹ ấy. Không riêng sách Nhã Ca mà mở bất cứ sách nào thuộc 5 cuốn văn thơ như các sách THI THIÊN hay TRUYỀN ĐẠO cũng thấy những ý tưởng sâu sắc được miêu tả bằng một thứ ngôn ngữ kỳ diệu đã được chuyển ngữ hầu như nguyên vẹn bằng tài dịch của Phan Khôi . Với Kinh Thánh Tin lành Việt ngữ, sự nghiệp của Phan Khôi đã có một khúc ngoặt làm cho ngôn ngữ thơ Việt Nam thêm bội phần diễm lệ rồi được tiếp nối bằng các nhà thơ, nhất là ở Miền Nam sau này.

Một vấn đề không kém quan trọng khác--khiến thúc đẩy người viết đưa nghi án này ra ánh sáng mặt trời--là cần có sự tìm hiểu nhiếu hơn cho xứng đáng với công lao của ông bà W.C. Cadman nói riêng cùng Hội thánh Tin lành Việt Nam nói chung. Họ đã chịu bao nhiêu khổ nhọc để, không những góp phần vào việc phiên dịch Kinh thánh, mà còn đi tiên phong trong lịch sử in ấn của Việt Nam ở buổi đầu đầy chật vật ấy.

Khi nhìn lại, thời đại của Phan Khôi chỉ đi trước thời đại của các nhà văn Miền Nam không lâu. Nhưng cũng như các đồng nghiệp trẻ tuổi hơn ấy, chúng ta có thể thấy bao nhiêu vật đổi sao dời khi ông mới bắt đầu tham dự làng văn một cách lẫy lừng mà rồi phải kết cục cuộc đời trong cái tang thương của một thời kỳ đầy những “kẻ làm chứng gian và nói đều dối” trong một chế độ làm “đổ huyết” bao người ‘vô tội”. Nhưng ít nhất lần này, mọi sự có cơ sáng tỏ. Nhưng không  phải tự nhiên mà sáng tỏ đâu. Ðó là vì “có kỳ than vãn, và có kỳ nhảy múa ; có kỳ nín lặng, có kỳ nói ra” (Truyền Ðạo, 3: 4, 7). Bổn phận chúng ta là nay đã hết “kỳ than vãn” và hết “kỳ nín lặng”. Ðã tới “kỳ nói ra”, để nói tiếp Phan Khôi ở cái phần ông chưa nói hết, và sau đó, sao cho Văn học Miền Nam được giữ gìn trong lịch sử nước nhà.  [NTC]

Nguyễn Tà Cúc

 

Cuốn Kinh thánh Tin lành Việt ngữ in lần đầu tiên vào năm 1926
do Hội Tin lành Đông Pháp tặng cho Hội Truyền giáo Phước âm Liên hiệp
(The Christian Missionary and Alliance)



bản KINH-THÁNH
CỰU-ƯỚC VÀ TÂN-ƯỚC
in lần thứ Tám
Saigon
Thánh-Thơ Công-Hội
1963

 

Nguyễn Tà Cúc

Phan Khôi và Công trình phiên dịch

Kinh thánh Tin lành Việt ngữ

biên khảo – kỳ 1

Nhắc đến Kinh thánh, không ai là không biết đến tầm quan trọng của nó trong mọi khía cạnh của nền văn minh Tây phương từ lịch sử cho đến nghệ thuật như được chứng minh qua một thí dụ điển hình sau đây. Ngày 20. 4. 2009, tạp chí nghệ thuật trên mạng Art Daily cho đăng một bài có tên “Các nhà chuyên ngành phát biểu rằng Pablo Picasso, một họa sĩ người Tây ban nha, có thể đã lấy cảm hứng từ cuốn Kinh thánh Mozarabic (960 A.D.) để họa các hình thể  trong tranh Guernica” (1). Trong bài, nhiều nhà khảo cứu khắp nơi trên thế giới đã đồng ý rằng có một sự trùng hợp “khác thường”, “không thể phủ nhận được” và “không thể nào lại là một sự tình cờ” giữa những hình thể xuất hiện trong bức tranh Guernica (1937) của Picasso-một tay khổng lồ trong lịch sử hội hoạ--và một số minh hoạ tìm thấy trong cuốn Kinh Thánh “Mozarabic” hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng viện của Nhà thờ Lớn tại Thành phố Léon, Tây ban nha. Theo họ, những “trùng hợp không thể nào tình cờ” và “khác thường” ấy hiện ra rất rõ trong hình các con thú vật như bò tót vốn là biểu tượng của Thánh Lu-ca. Hơn thế nữa, hình con ngựa trong Guernica cũng tương tự như một con sư tử trong cuốn Kinh thánh này.  

Kinh Thánh cũng là nguồn cảm hứng vô tận cho các họa sĩ khác mà không ai có thể đặt vấn đề như với Picasso. Gustave Doré một họa sĩ người Pháp (1832-1883) thì càng lừng danh với cả trăm tấm họa khắc trên gỗ mà ông diễn tả các biến cố trọng đại đã xẩy ra trong cả Cựu lẫn Tân ước. Khoảng 240 bức họa này đã được lựa chọn dưới nhan đề “Minh họa Kinh thánh” và xuất bản lần đầu tại Pháp vào năm 1865, và sau đó, in lại qua nhiều ấn bản với các ngôn ngữ khác nhau.

Ảnh hưởng của Kinh Thánh không chỉ dừng lại ở giới nghiên cứu và thế giới hàng triệu mỹ kim của các hiệu bán đấu giá tranh Picasso mà còn nghiêng xuống bất cứ lúc nào trên ngành truyền thông vốn thường dành cho mọi giai cấp. Cách đây hơn nửa năm, nhật báo The New York Times, tờ báo vẫn được xem là có thế lực nhất Hoa Kỳ, phạm vào một lỗi lầm hết sức bất ngờ là không soát lại một bài viết trong đó tác giả đã gán nhầm cho nhà thơ W. B. Yeats một câu phát biểu có xuất xứ từ Kinh Thánh (2) .  Đó là câu “Chớ quên sự tiếp khách; có khi kẻ làm đều đó đã tiếp đãi thiên sứ mà không biết” (Hê-bơ-rơ 13:2, Kinh thánh Tin lành, Cadman-Phan Khôi dịch, Thánh Thơ Công hội xuất bản tại Thượng Hải, 1925). Một tuần sau, khi độc giả nhắc cho biết, tờ The New York Times phải đính chính cho rõ ràng hơn.

(http://www.nytimes.com/2011/12/15/Correction: December 21, 2011.

Bởi thế, nếu chính những người từ nền văn minh ấy mà còn bị mang tiếng vay mượn hay nhầm lẫn thì chúng ta, những người xuất thân từ một nền văn hóa khác, càng dễ nhầm lẫn hơn nữa khi phải nói đến một vấn đề có những chi tiết vẫn chưa sáng tỏ hoàn toàn liên quan đến  bản dịch Kinh thánh của Hội thánh Tin lành Việt Nam. Mới đây, nhà phê bình Thụy Khuê, trong cuốn Nhân Văn Giai Phẩm và Vấn đề Nguyễn Ái Quốc (Tiếng Quê Hương xuất bản, 2012, trang 625-629) đã giới thiệu sai lầm về việc dịch Kinh Thánh -Tân ước của Phan Khôi. Việc phân tích sự sai lầm ấy là cần thiết, không phải để chứng minh Thụy Khuê thiếu nghiêm chỉnh hay không đủ kiến thức, mà để xem như một lời mời chung để mở rộng việc nghiên cứu và tiện thể, cũng là một lời kêu gọi góp ý với người viết về vấn đề hết sức khó khăn  này để hoàn chỉnh cũng như sửa chữa những sai lầm, nếu có: 

I- Sai lầm của Thụy Khuê trong vấn để phiên dịch Kinh thánh Việt ngữ của Phan Khôi

Trong phần sách đã dẫn, Thụy Khuê viết như sau:

-“Bây giờ thử so sánh đoạn Chúa giáng sinh, trong kinh Tân ước qua hai bản Tin Lành và bản Công giáo, để thấy cách dịch của Phan Khôi.

"Phúc âm Matthieu - L'Évangile selon Saint Matthieu, bản Tin Lành dịch:

"Phúc âm Mã-Thi, Chúa giáng sinh

"Sự giáng sinh của Chúa Cứu Thế Giê-xu diễn tiến như sau: Cô Ma-ri đã đính hôn với Giô-sép, nhưng khi còn là trinh nữ, nàng chịu thai do Thánh Linh. "Giô-sép, vị hôn phu của Ma-ri là người ngay thẳng, quyết định kín đáo từ hôn, vì không nỡ để nàng bị sỉ nhục công khai. Đang suy tính việc ấy, Giô-sép bỗng thấy một thiên sứ đến báo mộng: "Giô-sép, con cháu Đa- vít! Đừng ngại cưới Ma-ri làm vợ! Vì cô ấy chịu thai do Thánh Linh. Ma-ri sẽ sinh con trai, hãy đặt tên là Giê-xu vì Ngài sẽ cứu dân Ngài khỏi xiềng xích tội lỗi" (Thụy Khuê chú thích-- số 790, trang 628, sđd-- rằng đoạn trên trích từ “Thánh Kinh Cựu Ước và Tân Ước, Thánh Kinh Hội quốc tế xuất bản, Văn Phẩm Nguồn Sống phát hành, 1994, trích Kinh Tân Ước, sách Phúc âm Mã-Thi, Chúa giáng sinh, trang 1.")

Sau khi trích thêm phần dịch của “bản Công giáo” ("Tin mừng theo thánh Mát-Thêu, Truyền tin cho ông Giu-se", trang 628, sđd), Thụy Khuê kết luận:

-“So sánh hai đoạn văn, chúng ta thấy ngay tài dịch của Phan Khôi: đoạn trên ngắn hơn đoạn dưới hơn một dòng, lại rõ nghiã và hay hơn. Ví dụ Évangile dịch là Phúc âm (chữ Hán) hay hơn Tin mừng (tiếng Việt). Không kể sự vô lý ở đoạn dưới: chưa chung sống thì sao gọi là vợ chồng? Bản tiếng Pháp phổ thông cũng ghi: "Marie, sa mère, était fiancée à Joseph". (Bà Marie, mẹ người, là vợ chưa cưới của Joseph)…”(Thụy Khuê, Nhân văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc, 2012, trang 627-629)

Khốn nỗi, người viết có thể quả quyết hai điều về đoạn dịch nêu trên mà Thụy Khuê cho là của Phan Khôi để rồi Thụy Khuê có thể sử dụng để so sánh với bản dịch Công giáo.  Thứ nhất, đoạn dịch Kinh thánh nêu trên CHẮC CHẮN không thuộc bản dịch Phan Khôi. Thứ hai, người viết hy vọng có thể xác định bản dịch đó --vẫn được gọi là “Bản diễn ý”-- lại là của Cố Mục sư Tiến sĩ Lê Hoàng Phu (1926-2003) (3).

1-Bản diễn ý của Mục sư (quá cố) Lê Hoàng Phu

Trước hết, tuy bản  dịch toàn thể Cựu Ước và Tân Ước mà Thụy Khuê đã dẫn từ “Thánh Kinh Hội quốc tế xuất bản và Văn phẩm Nguồn sống” phát hành năm 1994  nhưng riêng bản Tân ước thì đã do Lời hằng sống (The Living Bible) xuất bản trước đó ít nhất là từ năm 1982. Ngay trang đầu, người đọc sẽ có dịp thấy ba chữ đứng riêng “Bản diễn ý” ngay dưới dòng chữ “Thánh kinh Tân ước”. Nhờ ba chữ “Bản diễn ý” này mà chúng ta có thể biết chắc chắn người dịch không phải là Phan Khôi vì bản dịch Phan Khôi vẫn được tín hữu Tin lành gọi là “Bản dịch 1926” hay “Bản dịch truyền thống”. Trong truyền thống phiên dịch Kinh Thánh Tin Lành Việt Ngữ, tên người dịch không bao giờ được để vào sách, trừ phi là được các thư viện (đại học) chú thích để phân biệt các bản dịch khác nhau hay chỉ có mục đích nhắm bảo vệ bản quyền như trường hợp bản dịch của Mục sư Đặng Ngọc Báu (4).

Cũng cần nói thêm rằng Lê Hoàng Phu là dịch giả duy nhất đã chuyển “(Tin lành theo) Ma-thi-ơ” thành “Mã-thi”. Rõ ràng hơn nữa, chính ngay trong bài “Quá trình  dịch Kinh Thánh sang tiếng Việt” của Phước Nguyên mà chính Thụy Khuê đã sử dụng để viết phần này, cũng có câu: “ Năm 1982, Hội Living Bible International tại Hong Kong đã phát hành Thánh Kinh Tân Ước do Mục Sư Tiến Sĩ Lê Hoàng Phu thực hiện. Bản dịch mới này thường được đọc giả biết đến dưới tên Thánh Kinh Tân Ước Diễn Ý[...]Năm 1994, toàn bộ Thánh Kinh do Mục Sư Lê Hoàng Phu và ba dịch giả phiên dịch đã được Thánh Kinh Hội Quốc Tế (International Bible Society - IBS) và Văn Phẩm Nguồn Sống phát hành vào tháng 6/1994 tại Anaheim, California.”  " (Phước Nguyên, Báo Linh Lực, tháng giêng. 1996,  http://vnbaptist.org/Tai_Lieu/QuaTrinh.htm)

Hơn thế nữa, Mục sư Đặng Ngọc Báu, trong một bức thư phúc đáp người viết vào ngày 14 tháng 8. 2012 tái xác nhận: “Bản Dịch Diễn Ý đúng là do Cố Mục Sư Lê Hoàng Phu dịch với sự cộng tác của các em ông.” Ngoài ra, “Bản diễn ý Tân ước” với sách Mã-Thi cũng đã được tổ chức Biblica đưa lên mạng của họ dưới mục Vietnamese Bible với lời giới thiệu là “hoàn tất năm 1981”. Thụy Khuê và độc giả có thể thấy tận mắt toàn thể "Bản diễn ý Tân ước" và "Sách Mã-Thi" của Lê Hoàng Phu–có phần y hệt như Thụy Khuê đã dẫn-- trên mạng Biblica http://www.biblica.com/uploads/pdf-files/bibles/vietnamese/nt/matthew.pdf.

Như vậy không còn hồ nghi gì nữa: bản dịch được Thụy Khuê trích dẫn là của Lê Hoàng Phu chứ không phải của Phan Khôi. Như thế, càng không nên quyết đoán Kinh thánh Công giáo là “vô lý” vì “chưa chung sống thì sao gọi là vợ chồng?” như Thụy Khuê nhận xét. Vâng, “chưa chung sống” vẫn có thể được coi là “vợ chồng” được nếu theo một chú thích trong bản dịch của Linh Mục Nguyễn Thế Thuấn: “Chồng: tuy đính hôn, đôi nam nữ đã được coi như vợ chồng trước luật pháp” (Nguyễn Thế Thuấn, “Tin mừng theo Thánh Matthêô”, Chú thích số 19, trang 13, sđd, Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam tái bản tại Mountainville, CA, Hoa Kỳ, 4.1980). Luật pháp đó dĩ nhiên là luật của Hội Thánh cho dù người ngoại đạo như chúng ta có chấp nhận hay không.

2-Nguyên văn bản dịch đoạn trên của Phan Khôi

Cũng chính vì nhầm bản Lê Hoàng Phu ra bản của Phan Khôi mà Thụy Khuê không biết rằng các bản dịch Tin lành Việt ngữ khác cũng đã dùng chữ "chồng" trong đoạn ấy. Đây là bản dịch từ "nguyên bản Hy-bá-lai và Hy Lạp" của Ủy ban Phiên dịch, Hội Kinh Thánh Việt Nam, xuất bản tại Singapore, 2002:

-" Sự giáng sinh của Chúa Cứu Thế Giê-su  đã xẩy ra  như sau: Ma-ri, mẹ ngài,  đã đính hôn cùng Giô-sép, nhưng trước khi hai người chung sống, thì Ma-ri đã thụ thai  do quyền phép Đức Thánh Linh. Giô-sép, chồng hứa của nàng là người có tình nghĩa..." (Ma-thi-ơ 1-18-19, trang 1110, sđd)

Đây là bản dịch của Mục sư Đặng Ngọc Báu, số hiệu "Bản dịch 2011-Ấn bản A", Hoa Kỳ, 2011 cũng từ nguyên bản, xuất bản tại Hoa Kỳ, 2011:

-" Sự giáng sinh của Đức Chúa Jesus Christ  đã xẩy ra  như thế nầy: Ma-ry, mẹ ngài,  đã đính hôn với Giô-sép, nhưng trước khi hai người đến với nhau, nàng đã thụ thai  bởi Đức Thánh Linh. Giô-sép, chồng nàng là một  người có tình nghĩa..." (Tin Mừng theo Ma-thi-ơ 1:18-19, trang 1, sđd)

Và đây mới là bản dịch hầu như đã được công nhận của Phan Khôi, in tại Hà Nội, 1925. Bản này còn được phổ biến dưới tên gọi "Bản truyền thống" (hay "Bản 1926" vì, theo giả thuyết của người viết và sự xác nhận trước đó của những tác giả khác như Phước Nguyên , bản dịch của  Phan Khôi chính thức được Thánh Thơ Công hội cho phát hành vào năm 1926, gần 1 năm sau khi việc in ấn đã hoàn tất vào năm 1925 tại Hà nội):

-"Vả, sự giáng sanh của Đức chúa Jesus-Christ đã xẩy ra như vầy: Khi Ma-ri, mẹ Ngài,  đã hứa gả cho Giô-sép, song chưa ăn ở cùng nhau, thì người đã chịu  thai  bởi  Đức Thánh Linh. Giô-sép, chồng người là người có nghĩa..." (Ma-thi-ơ 1:18-19, trang 1, sđd)

Như vậy, Thụy Khuê đã vô tình chê Phan Khôi mà không biết! Cho nên, càng nên tránh việc phê phán bản dịch Tin Lành “hay hơn” bản dịch Công giáo (Thụy Khuê, sđd). Lý do đơn giản là những linh mục dịch giả chưa chắc đã không giỏi tiếng Hán (việt). Đằng khác, một người từng tốt nghiệp Truyền đạo, từng được phong chức Mục sư, từng giảng dậy và viết nhiều sách thần học như Lê Hoàng Phu (tác giả đoạn Mã -Thi mà Thụy Khuê đã dẫn) thì không dùng chữ Phúc âm chỉ vì “tiếng Hán” lại “hay hơn tiếng Việt” mà vì có thể chữ "Phúc âm" hàm chứa một ý nghĩa đầy đủ hơn về giáo lý Tin lành.

Sâu xa hơn, một vấn đề khác hết sức quan trọng cần được giải quyết qua thí dụ bằng sự nhầm lẫn của Thụy Khuê: Phan Khôi đã dịch toàn thể hay chỉ phần nào trong Kinh Thánh Tin lành Việt Ngữ và tại sao có nơi lại cho biết là bản dịch đầu tiên này được phát hành vào năm 1925 (chứ không phải 1926) như Lê Hoàng Phu và một số bài viết về lịch sử phiên dịch đã cho biết và lại còn đề là phát hành "lần thứ hai" (chứ không phải thứ nhất)?

II-Phan Khôi đã dịch toàn thể hay chỉ phần nào trong Kinh Thánh Tin Lành Việt ngữ?

Một trong những người nêu thắc mắc chính là ông Phan Nam Sinh, thứ nam của Phan Khôi. Mới đây, vào tháng 3, 2012, , trong bài Về những nghi vấn xung quanh hai tác phẩm của Phan Khôi, Phan Nam Sinh trình bày vài suy nghĩ về Phan Khôi và Kinh Thánh Tin Lành:

-“Các sách hoặc bài viết về Phan Khôi gần đây đều có nhắc đến việc ông dịch “Kinh Thánh” nhưng cũng chỉ nói chung chung mà không thấy ai khẳng định ông dịch phần nào hay dịch trọn bộ “Kinh Thánh”. […] Vậy Phan Khôi cộng tác với mục sư William C.Cadman dịch trọn bộ “Kinh Thánh” hay chỉ dịch phần Tân ước như có người nói? Để trả lời câu hỏi này cần biết trọn bộ “Kinh Thánh”, bản tiếng Việt, in tại Thượng Hải năm 1925, khổ 13 x 20cm có cả thảy 1397 trang; trong đó Cựu ước 1070 trang, Tân ước 327 trang, nghĩa là Tân ước chỉ chiếm chưa tới một phần tư “Kinh Thánh”. Tôi không tin Phan Khôi chịu bỏ ra một quãng thời gian dài tới 5 năm chỉ để dịch hơn ba trăm trang sách ( hơn 5 ngày cho 1 trang ) dù cho đó là “Kinh Thánh”, trong khi ông còn nhiều việc khác phải làm để kiếm sống và nuôi gia đình. […] Độc giả khi biết Phan Khôi dịch “Kinh Thánh” đều có chung băn khoăn, không biết ông dịch từ bản tiếng Pháp hay từ bản tiếng Hán?[…]Lại nữa, trang đầu “Kinh Thánh” xuất bản tại Thượng Hải năm 1925 có ghi: “In lần thứ hai”. Sao lại là lần thứ hai trong khi chính Phan Khôi cho biết ông chỉ mới dịch xong “Kinh Thánh” vào năm này?. Chẳng lẽ chưa in đã có sách bán hoặc chỉ trong vòng một năm hay chưa đầy một năm đã bán hết “Kinh Thánh”? Đấy là câu hỏi từng theo tôi nhiều năm mà chưa giải đáp được. Gần đây, nhân đọc báo “Thanh niên” số Xuân Nhâm Thìn thấy nói hồi ký của William C.Cadman cho hay: Hội Thánh Kinh Anh quốc xuất bản “Kinh Thánh” Tân ước tại Hà Nội năm 1923 và toàn bộ “Kinh Thánh” được xuất bản tại Thượng Hải vào năm 1926. Thế hóa ra khi xuất bản “KinhThánh” Tân ước tại Hà Nội thì gọi là “In lần thứ nhất” và khi xuất bản “Kinh Thánh”, cả Cựu ước lẫn Tân ước tại Thượng Hải thì gọi là “In lần thứ hai”?. Sao lại có chuyện kỳ lạ và thiếu khoa học đến vậy? Và liệu trí nhớ của ông mục sư có còn tin được không khi nói toàn bộ “Kinh Thánh” xuất bản tại Thượng Hải năm 1926 trong khi cuốn “Kinh Thánh” vốn là sở hữu của Phan Khôi mà tôi đang giữ cũng xuất bản tại Thượng Hải lại ghi rõ ràng là: “SOCIÉTÉ BIBLIQUE BRITANNIQUE ET ÉTRANGÈRE-SHANGHAI-1925”? (HIỆP HỘI THÁNH KINH ANH QUỐC VÀ NƯỚC NGOÀI-THƯỢNG HẢI-1925). Hay còn một cuốn “Kinh Thánh” in lần thứ ba khác nữa cũng xuất bản tại Thượng Hải vào năm 1926 như lời mục sư William C. Cadman? Chuyện cách nay chưa đầy 90 năm mà đã rắc rối như thế, liệu vài ba mươi năm sau sẽ còn gây khó khăn đến đâu cho các nhà nghiên cứu? 25-3-2012 (Phan Nam Sinh, sđd, http://cauganh.vnweblogs.com/print/13114/369738).

Để ráng trả lời hai câu hỏi của ông Phan Nam Sinh, người viết sẽ trích dẫn các nguồn tài liệu sau đây: từ chính Phan Khôi qua những bài sưu tập của Lại Nguyên Ân (viết tắt PK-LNA); luận án tiến sĩ của Lê Hoàng Phu (LHP) với cả hai  bản Anh Việt ngữ;  The Call of French Indo-China (TCFI-Tiếng gọi Đông Dương) do Gospel Press, Hà nội ấn hành từ 1922 tới 3.1934;  The Alliance Weekly (TAW-Sợi giây liên hiệp hàng tuần, trong những năm 1920 và 1930 ấn hành tại New York hay Pennsylvania); một bản sao lá thư bốn  trang ký ngày 5.4.1982 của J.S.Sawin có tiêu đề “Tóm tắt lịch sử dịch Kinh Thánh sang tiếng Việt”, các tài liệu khác từ Thư viện Đại học Cornell (TC) và Thư viện Quốc gia Pháp (BNF). Nhưng quan trọng nhất vẫn là bản sao của 23 lá thư Mục sư (truyền đạo) William Charles Cadman (vẫn được biết là W. C. Cadman) gửi cho Hội Truyền giáo Phước âm Liên hiệp (The Christian Missionary and Alliance) là hội gửi các mục sư truyền đạo tới Việt Nam để giảng Tin lành. Qua những bức thư này, người đọc có thể hình dung những khó khăn mà ông (4.4.1883. Luân Đôn, Anh quốc-30.11.1948, Đà lạt) cùng với vợ là bà Grace Cadman (27.9.1876, Illinois, Hoa kỳ-24.1.1946, Sai gòn, Nam Việt Nam) đã trải qua khi thành lập nhà in ngay tại Hà nội rồi xúc tiến việc phiên dịch Kinh thánh Tin lành sang Việt ngữ. Riêng việc phiên dịch này, ông bà Cadman đã bất chấp những khuynh hướng phiên dịch Kinh thánh khác để áp dụng chủ trương của chính ông bà, một chủ trương theo sát nguyên ngữ Hy lạp hay Do thái và dịch thẳng từ bản Kinh thánh Anh ngữ (của Hội thánh Hoa Kỳ hay Anh quốc) hơn là qua bản dịch Pháp ngữ của bản Anh ngữ.  Trong bức thư đề ngày mồng 5 tháng giêng 1924 gửi cho mục sư D. I Jeffrey, người lãnh đạo trường Kinh thánh và Hội thánh Tourane (Đà nẵng), Cadman phát biểu như sau, sau khi đã tranh luận với Jeffrey (và có lẽ cả  Hội Truyền giáo Phước âm Liên hiệp ) về bản kinh thánh ngoại ngữ nào phải được sử dụng để dịch sang tiếng Việt:

-"Nhưng theo tôi, tâm điểm của vấn đề này là một ngày nào đó trong tương lai, nỗ lực của chúng ta tại Đông dương phải có kết quả là một bản dịch được dịch thẳng từ những ngôn ngữ nguyên bản. (Bởi vì) một bản mà dịch ra từ một bản dịch khác thì  luôn luôn sẽ có một sự mất chính xác, cho dù là bản dịch mới này có hay hơn. Bà Cadman cũng đồng ý với tôi trong vấn đề này." (W. C. Cadman, sđd) (5)

Tiếp đó, người viết cũng căn cứ những tìm hiểu của mình qua những cuốn Kinh Thánh Tin Lành Việt Ngữ (từ nay cũng gọi tắt là Kinh Thánh) với 5 bản dịch khác nhau mà người viết hiện có trong tay: Bản dịch Cadman-Phan Khôi hay Bản dịch Truyền thống hoặc Bản dịch 1926 (BDPK) do Liên hiệp Thánh Kinh Hội (United Bible Societies) tái bản tại Hoa Kỳ; Bản dịch Tân ước Nhuận chánh-song ngữ Anh Việt do Hội Ghi-Đê-Ôn Quốc tế (BDTNC -The Gideons International) phát tặng- không bán, Hoa Kỳ; Bản Tân ước Diễn ý hay Bản dịch Lê Hoàng Phu (BDTULHP) do Lời Hằng sống ấn hành, 1987, Hoa Kỳ; và Bản dịch Phan Khôi, Liên hiệp Thánh Kinh Hội tái bản, 1998, Việt Nam (BDPK-VN). Riêng bản này khi đánh máy lại đã  tự động sửa đổi nhiều chữ trong nguyên bản (thí dụ như chữ “nhơn” đổi thành “nhân”).  Vài mạng ngoài nước vì đăng lại bản số hóa của bản dịch ấy cũng mắc vào lỗi trầm trọng này khiến sai lạc hẳn đi những chi tiết rất cần thiết để nhận dạng thời điểm và tác giả của bản dịch.Thêm vào đó, người viết cũng dùng tới Bản dịch 2011 (BDĐNB) đã xuất bản và đăng trên các diễn đàn trên mạng Internet. Tuy Mục sư Đăng Ngọc Báu đã nhất quyết căn dặn trong thư rằng không nên nêu tên ông là tác giả mà cần ghi “Hội Kinh Thánh Việt ngữ”, chúng tôi mạn phép được ghi rõ như vậy riêng trong bài này để sự nghiên cứu và phân biệt các bản dịch được dễ dàng hơn.

Ngoài các bản Tin lành tiếng Việt, chúng tôi còn đối chiếu với bản Công giáo do Linh mục  Nguyễn Thế Thuấn dịch (Dòng Chúa Cứu Thế phát hành, 1978), cuốn New Revised Standard Version-The New Oxford Annotated Bible with the Apocryphal/Deuterocanonical Books (Oxford University Press xuất bản, 1994) và thêm bản “King James” vốn là bản cổ điển mà các bản Anh ngữ khác dựa vào để hiệu đính.

Sau nữa, để cho thống nhất với ngôn ngữ mà Hội Thánh Tin lành Việt Nam sử dụng và để dễ bề cho người nghiên cứu khác kiểm chứng, chúng tôi giữ lại cách dịch mà chúng tôi đã thấy trên ấn phẩm hay Kinh Thánh đã được Hội Kinh Thánh Tin lành Việt Nam xuất bản sau khi tham khảo thêm luận án của  Lê Hoàng Phu cho chắc chắn hơn. Bởi thế, chúng tôi sẽ dùng Hội Truyền giáo Phước âm Liên hiệp (The Christian Missionary and Alliance-CM&A), Thánh thơ Công hội (The Bristish & Foreign Bible Society-BFBS), Thánh kinh Hội Liên hiệp (United Bible Societies-UBS), Thánh kinh Hội Quốc tế (International Bible Society –IBS), Thánh kinh Hội Mỹ quốc (The American Bible Society-ABS), Đông Pháp Phước âm Ấn quán (Gospel Press, Hanoi, Tonkin- GP).

Người viết muốn chú thêm ngay tại đây rằng Đông Pháp Phước âm Ấn quán, dưới quyền điều động và sắp đặt của giáo sĩ W. C. Cadman, giữ một vị trí hết sức quan trọng trong lịch sử phiên dịch và in ấn của Việt Nam chứ không riêng gì của Hội Thánh Tin lành vì đây là nơi đã in Kinh Thánh tiếng Việt và các ấn bản liên quan đến các sách trong Kinh Thánh hay giáo lý Tin Lành mà lời văn gọn ghẽ và đúng chính tả. Các sách do Đông Pháp Phước âm Ấn quán in ấn và xuất bản  điển hình là Thánh giáo biện nghi (102 trang, 1924), Thơ thánh hát ngợi khen Đức Chuá Trời trích lược(6 trang, 1924), Gỡ lưới Sa-Bát (2 bản, 30 hay 32 trang, 1938), Đến cùng Đức Chúa Jesus (40 trang, không rõ năm).

Sau đây, có mấy câu hỏi chính cần được trả lời nếu đề cập đến vấn đề dịch Kinh Thánh Việt ngữ có liên quan đến Phan Khôi. Đó là, thứ nhất, Phan Khôi dịch theo bản Kinh Thánh ngoại quốc nào; thứ hai, Phan Khôi dịch phần nào hay dịch trọn bộ Kinh Thánh và thứ ba; bản dịch Phan Khôi ấy xuất bản vào năm 1925 hay 1926 và tại sao lại ghi là “In lần thứ hai” mà không phải là lần thứ nhất? Sở dĩ chúng ta cần biết Phan Khôi dịch từ đâu là để hiểu rõ thêm và phân biệt các bản dịch sau này vì không thể đưa bất cứ bản nào ra như Thụy Khuê đã làm chỉ để so sánh, thậm chí khen chê. Về việc dịch kinh điển của một đạo giáo, Phan Khôi đã chỉ rõ trong bài của ông:  “Bởi vì có ở trong tông giáo ấy thì mới hiểu rõ được đạo lý để mà nói sang thứ tiếng khác. Nếu cái người ở trong tông giáo đó không thạo lắm về nghề làm văn thì phải nhờ đến người thạo nghề ở ngoài; nhưng người ngoài chẳng qua là vai phụ, còn vai chánh bao giờ cũng phải lấy trong tông giáo, vì trong kinh điển, phần đạo lý là phần trọng hơn vậy.” (Phan Khôi, “Bàn về việc dịch Kinh Phật”, Báo Trung lập, Sài gòn, s.6532 -Phụ trương văn chương số 19, thứ bảy 5.9.1931; s.6538 -Phụ trương văn chương số 20, thứ bảy 12.9.1931 do Lại Nguyên Ân sưu tầm và in lại trong Phan Khôi, Tác phẩm đăng báo 1931-Người viết gạch dưới)

1) Kinh Thánh được Phan Khôi dịch từ ngôn ngữ và bản nào trong ngôn ngữ đó?

Phan Khôi từng tỏ lộ là ông “dịch kinh điển đạo Cơ Đốc từ tiếng Pháp và tiếng Tàu” nhưng Kinh Thánh có rất nhiều bản khác nhau dù là cùng một ngôn ngữ như tiếng Anh hay tiếng Pháp. Vậy là bản nào và tại sao Phan Khôi lại dịch “từ tiếng Tàu” trong khi Tin Lành xuất phát từ Tây phương?

Theo Lê Hoàng Phu, Hội Thánh Tin Lành Việt Nam được thành lập bởi các giáo sĩ của Hội Truyền giáo Phước âm Liên hiệp do Mục sư A. B. Simpson (1843, Canada-1919, Hoa Kỳ) sáng lập. Hội cử giáo sĩ sang Hoa Nam, Trung Hoa truyền giảng và từ căn cứ đó xuôi xuống ven biển để thành lập nhà thờ đầu tiên tại Miền Trung Việt Nam vào năm 1911 rồi nhiều giáo sĩ khác được bổ nhiệm tại Hà nội (như ông bà W. C. Cadman) hay Sàigòn. Hội Thánh này mang tên là Hội Thánh Tin Lành Đông Dương hoặc Đông Pháp vì bao gồm luôn cả Kampuchea, Lào và Thái Lan. Các giáo sĩ tới đây đều thông thạo tiếng Trung Hoa trước khi đặt chân đến Việt Nam. Ông Cadman rất giỏi tiếng Quảng Đông. Thế nên, họ có thể tham khảo cả Kinh Thánh Trung Hoa. Sau khi nhận nhiệm sở, nếu họ chưa biết tiếng Pháp rành thì họ phải học tiếng Pháp cùng lúc với nỗ lực học tiếng Việt vì họ nhận ra ngôn ngữ là một phương tiện lợi hại cho sự truyền giáo.

Theo J.S. Sawin, một chuyên gia đã sưu tập những bài giảng và cuộc đời truyền đạo của A. B. Simpson và từng viết về lịch sử truyền giáo của Hội Phước âm Liên hiệp tại Việt nam thì giáo sĩ John D. Olsen dựa bản dịch của mình trên Kinh Thánh Pháp “Synodal” và bản Kinh Thánh Công giáo song ngữ Pháp-Việt. Theo cuốn Sổ đăng lục của Kinh thánh Hội Mỹ quốc, Sổ 64-66 (Bible Society Record) thì Bản “Synodal” là bản Kinh Thánh được Hội Thánh Trưởng Lão (Presbyterian) Mỹ quốc hiệu đính và dịch sang tiếng Pháp (trang 61, sđd). Bản Kinh Thánh này, do Thánh kinh Hội Mỹ quốc xuất bản và tặng cho Thánh Kinh hội Pháp quốc, được lưu truyền ngay cả trong giới binh lính viễn chinh Pháp. Cho nên đó không phải là một sự ngạc nhiên mà Giáo sĩ Olsen tham khảo nó. Trong khi đó, thì ngoài cuốn Kinh Thánh Công giáo, vợ chồng Cadman đã dưạ bản dịch của họ trên bản Kinh Thánh Pháp Louis Segond (do nhà thần học Louis Segond dịch từ cổ ngữ sang Pháp ngữ). Cuối cùng, họ hoàn chỉnh các bản dịch này theo bản Kinh Thánh Mỹ quốc. Trong một bức thư 2 trang gửi cho D. I. Jeffrey đề ngày 12 tháng 7, 1924, Cadman đã đả phá việc sử dụng cuốn Kinh thánh Synodale và báo cho biết là ông bà sử dụng lại bản Kinh thánh Hoa Kỳ:

-"Từ Hoa kỳ, Mục sư Olsen chưa gửi cho chúng tôi bản thảo của ông ấy.  Chúng tôi cũng nhận ra rằng quả là một sự tối cần thiết  để hoàn chỉnh phần (dịch) của chúng tôi lại để theo sát bản dịch của bản Anh ngữ đã được Hội thánh Hoa Kỳ hoàn chỉnh. Lẽ ra bản Synodale không bao giờ nên được dung nạp (vào việc phiên dịch) cả.  Olsen và cuộc họp Rader nhiều phần đã hướng việc phiên dịch vào bản này. Mọi sự sẽ khá hơn rất nhiều nếu được tiếp tục như chúng tôi đã bắt đầu khi sử dụng bản Segond, rồi gò nó theo tiêu chuẩn của bản Anh ngữ đã được Hội thánh Hoa Kỳ hoàn chỉnh. Chúng tôi đang trở lại với bản này, thế là lại đã đi vòng (về chỗ cũ)." (Cadman. sđd) (6)

Bởi thế, sau khi có được những tin tức cụ thể như thế, nếu muốn, chúng ta mới có thể tìm hiểu xem bản dịch Cadman-Phan Khôi có theo sát nguyên văn không. Câu trả lời là có vì bản dịch Cadman- Phan Khôi (“Giô-sép, chồng người, là nguời có nghĩa) theo sát với bản dịch Louis Segond (“ Joseph, son époux, qui était un homme de bien…”) hay bản dịch Hoa Kỳ (“Her husband, Joseph being a righteous man…). Ngay bản dịch 2011 Đặng Ngọc Báu cũng giữ như vậy (“Giô-sép chồng nàng là một người có tình nghĩa…). Nay tiếp tục bàn đến một vấn đề khó khăn và chính yếu hơn, là Phan Khôi đã dịch phần nào của Kinh Thánh?

2- Phan Khôi đã được chỉ định phiên dịch chỉ một phần hay trọn bộ Kinh Thánh và được giao trách nhiệm ấy trong thời gian nào?

A-Các sách Phan Khôi đã dịch trong Kinh Thánh

Kinh Thánh Bản truyền thống gồm hai phần: Cựu ước (1070 trang) có cả thảy 39 sách, bắt đầu từ sách Sáng-thế Ký và chấm dứt với sách Ma-la-chi; Tân ước (327 trang) có tất cả 27 sách, khởi đi từ sách Ma-thi-ơ và kết thúc với sách Khải-huyền. Trong lịch sử phiên dịch Kinh Thánh được lưu lại trong The Call of Indo-China do Cadman làm chủ biên, Alliance Weekly hay các Bản báo cáo thường niên của Hội thì tuy có nhắc đến hai người Việt Nam (“Annamese”) được nhận vào những năm đầu 1920 để lo việc dịch chung với bà Cadman và giáo sĩ Olsen.

"Tên Phan Khôi xuất hiện trong bốn nơi: trong một lá thư của Cadman gửi cho Jeffrey đề ngày 21 tháng 4, 1924; lá thư của J.S. Sawin, về hay trong những cuốn Kinh thánh do Thánh Thơ Công hội xuất bản tại Việt Nam (lưu giữ ở các thư viện Thần học hay như tại Đại học Cornell) và trong chương IV của luận án Tiến sĩ Lê Hoàng Phu.

Trên nguyên tắc, lẽ ra những chi tiết về các sách kể cả  trong Tân ước và Cựu ước được Olsen hay ông bà Cadman dịch ghi lại trong  The Call of French Indo-China và Alliance Weekly cùng sự xác nhận của  J.S. Sawin (một người khả tín) phải xác quyết rằng Olsen và bà Cadman là “hai dịch giả chính yếu”. Nhưng nhiều yếu tố cho thấy không hẳn như vậy. Trước hết, phải nói ngay rằng, người viết có cảm tưởng Hội Truyền giáo Phước âm Liên hiệp đã không ghi rõ danh tính hai dịch giả “An nam” bản xứ này vì nói chung, họ coi người Việt như một giống dân đầy tội lỗi, phóng túng và cần cứu chuộc. Trong một bài viết của chính Giám đốc D. I. Jeffray, ông đã có lời báo cáo về các truyền đạo theo học tại Trường Kinh Thánh tại Đà nẵng rằng “Most of this group are not exactly brilliant (Đa số trong nhóm này không hẳn là xuất sắc gì cho lắm).” (D. I. Jeffray, “Training Young Men”, AW, ngày 29.4.1922) Chữ mà chúng ta sẽ hay được đọc trong các ấn bản này để tả người Việt là “heathen” (mọi rợ, vô văn hóa). Bởi thế, họ xem việc người Pháp đến chiếm đóng Việt Nam là đương nhiên. Dĩ nhiên, sau này thì thái độ ấy đã thay đổi hẳn."

Trở lại việc ai là dịch giả thì chúng ta có thể bỏ hẳn Olsen ra như Hội Thánh Tin Lành Việt Nam và các Mục sư của họ như Lê Hoàng Phu hay Đặng Ngọc Báu đã làm vì ba chi tiết mà người viết cho là rất đáng chú ý sau đây. Chi tiết thứ nhất là J.S. Sawin cho biết Olsen sang Việt Nam vào năm 1918  và năm 1920 thì “bắt đầu dịch một số sách Kinh Thánh”. Theo The Call of China thì số sách này gồm 12 cuốn trong Cựu ước, bắt đầu từ sách Phục truyền Luật lệ ký và ngưng lại ở  sách Truyền đạo (The Call of China, tháng 10-12, Số 5, trang 7-8).

Như vậy, chúng ta có quyền nghi ngờ kết quả của việc dịch của Olsen dù là sự nghi ngờ ấy có vẻ bất công: trừ phi là một thiên tài, một người trung bình không có cách nào dịch được, mà dịch Kinh Thánh nữa, sau khi tới Việt Nam chỉ có bốn năm năm. Nhưng quan trọng nhất là khả năng Việt ngữ của Cadman, thái độ của ông về Olsen và quyết định của ông bà Cadman đã sử dụng bản kinh thánh bằng ngoại ngữ nào để phiên dịch. Người viết hiện chỉ có 33 bức thư như đã nói trên thì không thể quyết đoán nhiều hơn, nhưng bức thư chỉ trích Olsen công khai là một chi tiết cho thấy ông bà Cadman sẽ biên tập phần dịch của Olsen nếu cần. Tiện thể, cũng cần nói thêm tại đây rằng ông Cadman là người  rất thông thạo Việt ngữ. Khi Jeffrey gửi cho ông các đề nghị để phiên dịch chữ "Bible School" thành "Kinh-Thánh Học trường" hay "Thần đạo", ông đã bác và thay vào bằng "Thánh -Kinh Nam -Học-Hiệu" (hay Nữ-Học-Hiệu nếu dành cho phụ nữ). Một trong những lý do ông đưa ra để bác là vì không muốn "giống các trường dậy thần học ở Trung Hoa mà chúng ta cần cho thấy là chúng ta khác họ." (Cadman, "Thư gửi Jeffrey, Ngày 19. 5. 1924). Tuy bà Cadman mới là người chính đảm nhận việc phiên dịch Kinh thánh Tin lành, nhưng ông Cadman từng là tác giả cuốn Thơ thánh hát ngợi khen Đức Chuá Trời trích lược (dịch các bài Thánh Ca) và cuốn Thánh Kinh Từ điển. (7)

Trong khi đó, đa số những tin tức rải rác khác cũng trên The Alliance Weekly đều công nhận (ông) bà Cadman gánh vác phần lớn việc phiên dịch cùng các “nhân viên người An nam” hay “hai nhà văn người An nam” nhất là khi việc dịch ấy đã bắt đầu từ năm 1919 dù là dịch sang chữ Nôm hay chữ Quốc ngữ (The Alliance Weekly, trang 40, ngày 12.4. 1919). Đằng khác, một chi tiết về chủ trương của Hội Truyền giáo Phưóc âm Liên hiệp sẽ cho thấy sự nghi ngờ ấy không phải là không có căn cứ. Trong "Bản báo cáo thường niên của Hội Truyền giáo Phước âm Liên hiệp Đông Pháp", Giám đốc Jaffray đã tường trình về cuộc hop thường niên-- tại Hải phòng vào  ngày 31.8  tới ngày 4.9 --ngay từ năm 1917  đã có hai quyết định đáng chú ý như sau: “Mỗi giáo sĩ cần phải dành thì giờ hiệu đính các sách …” và “mỗi giáo sĩ cần phải cố gắng sáng tác một vài bài giảng giản dị…” (AW. Vol. XLVIII, Số 12, ngày 23.6.1917).  Trách nhiệm ấy được đề cập đến rõ ràng hơn trong một bản tin trước đó: “Để coi như một phương tiện giúp cho việc ấn hành giáo lý Cơ đốc càng sớm càng tốt cũng như đẩy mạnh việc học (tiếng Việt), cuộc họp này đã giao cho mỗi giáo sĩ một phần trong Tân ước (để dịch ra tiếng Việt)…(AW, Vol. XLVIII, trang 121). Như thế, chúng ta có thể kết luận Olsen dịch là để đồng thời học tiếng Việt chứ hai người chủ yếu vẫn là bà Cadman và Phan Khôi như các tài liệu sau đây cho biết.

Theo chính lời Phan Khôi mà Lại Nguyên Ân sưu tập được thì ông dịch trọn bộ Tân ước và một phần ba Cựu ước

-“Tôi đã từng dịch kinh điển đạo Cơ Đốc từ tiếng Pháp và tiếng Tàu ra tiếng Việt Nam. Hồi đó tôi làm việc ấy dưới quyền hai ông bà mục sư W.Cadman. Tuy họ coi tôi là người trọng yếu lắm trong việc dịch, nhưng dầu đến một câu trong đó họ cũng không để toàn quyền về tôi. Gặp câu nào nghĩa hơi khó một chút thì bà Cadman đem nhiều bổn sách ra mà đối chiếu, – vì bà biết đến 13 thứ tiếng – để chọn lấy nghĩa nào đúng nhứt. Phần chúng tôi dịch chỉ có bộ Tân ước và một phần ba Cựu ước thôi, song mất đến 5 năm mới thành.” (Phan Khôi, "Bàn về việc dịch Kinh Phật", PK-LNA, http://lainguyenan.free.fr/pk1931/banve.html)

Thêm vào đó, Mục sư Đặng Ngọc Báu, sau khi công nhận Phan Khôi là  dịch giả&hiệu đính chính, đã cho người viết thêm chi tiết về bà Grace Cadman, vợ Mục sư Cadman, người đã đảm trách phần hoàn thành việc phiên dịch Kinh Thánh (đúng như Phan Khôi có lần thuật lại):

-“[B]ản dịch của Ông Bà Mục sư William Cadman (mà tôi tin là hầu hết do Nhà Văn Phan Khôi dịch và hiệu đính khi xưa).  Tôi được biết Bà Cadman giỏi tiếng Greek hơn mọi người trong Ban Phiên Dịch lúc bấy giờ” (Đặng Ngọc Báu, Thư email,  phúc đáp Nguyễn Tà Cúc, ngày 14.8.2012)

Thực là may mắn mà Phan Khôi để lại những chi tiết qúy báu như vậy và chúng ta có thể biết chắc là ông đã dịch (hay hiệu đính) Tân ước và một phần Cựu Ước. Nhưng làm sao xác định “một phần ba Cựu ước” là bắt đầu từ chỗ nào, đúng hơn, là từ “sách” nào? Nếu Kinh Thánh gồm hai phần: Cựu ước (1070 trang) và Tân ước (327 trang) thì như vậy Phan Khôi dịch từ trang 710, nghĩa là một phần ba cuối của Cựu ước, để bắt sang Tân ước. Nhưng thường thì người ta bắt đầu bằng một cuốn sách. Như vậy nhiều phần ông đã bắt đầu từ Sách Thi Thiên của Cựu Ước, trang 637. Như vậy cũng có nghĩa là ông đã dịch 4 trong 5 cuốn sách vẫn được xếp vào "Các sách văn thơ" của Kinh Thánh (Gióp, Thi-thiên, Châm-ngôn, Truyền-đạo, Nhã-ca)

B- Phan Khôi dịch trong khoảng thời gian 1920-1925 hay 1921-1925?

Phan Khôi trình bày thêm trong một bài viết khác rằng ông dịch trong vòng “5 năm (1920-1925)”:

-“Sau hết, tôi xin có lời cảm ơn ông bà Mục sư Cadman đã gởi tặng tập báo nầy cho tôi. Vì tôi làm chung việc dịch Kinh Thánh với ông trong 5 năm (1920-1925), biết ông là người yêu lẽ thật, nên thấy trái thì nói, tôi chẳng lấy làm ngại chút nào. Trong bài nầy, nếu có chỗ nào bổ ích cho việc biên tập của ông thì có lẽ là một đoạn cuối cùng đó. (Phan Khôi, “GIỚI THIỆU VÀ PHÊ BÌNH THÁNH KINH BÁO- Cơ quan của hội Tin Lành xuất bản tại Hà Nội”, sđd)

Có lẽ Phan Khôi nhớ lầm về cái mốc 1920 mà ông nhắc đến dù cái lầm rất nhỏ đó không thay đổi khoảng thời gian năm năm kia. Theo một bài tự truyện-- do Lại Nguyên Ân công bố sau khi được một người quen (“anh N.K.H.”) cung cấp -- thì lẽ ra Phan Khôi phải bắt đầu việc phiên dịch vào ngay đầu năm 1921 sau khi thôi việc ở công ty Bạch Thái Bưởi vào đúng cuối năm 1920:

-“Trước ngày định thôi việc một tháng, Phan Khôi gửi đơn xin thôi việc cho ông Bưởi bằng thư bảo đảm qua đường bưu điện. ‘Rồi buổi chiều ngày 31 tháng 12 năm 1920, tôi sang bàn giấy ông từ giã; ông kêu người thủ quỹ lấy đưa cho tôi 35 đồng theo với tiền lương tháng ấy mà nói rằng: Ông có ra, nhớ bảo cho người khác biết Công ty Bạch Thái sòng phẳng lắm, không hề quỵt tiền ký quỹ của ai đâu!’ Năm sau, 1921, gặp lại Phan Khôi đang viết cho Thực nghiệp dân báo ở Hà Nội, ông Bưởi ‘nằn nì tôi trở về với công ty nhưng tôi hẹn rồi lơ luôn!’ Vì tự Phan Khôi thấy mình không thể quay lại với nghề thư ký hãng buôn.” (Lại Nguyên Ân, “Bạch Thái Bưởi qua đoạn hồi ức của Phan Khôi”, Thời báo Kinh tế Sài gòn, số Xuân Tân Mão 2011)

Như chính Phan Khôi thuật lại thì ông đã báo trước một tháng (tức là tháng 11.1920) rồi “từ giã” Bạch Thái Bưởi để nghỉ vào đúng ngày cuối năm 1920. Nhưng có thể nào ông vừa làm cho công ty Bạch Thái Bưởi vừa làm thêm cho ông bà Cadman chăng? Câu trả lời nhiều phần là không vì thời khóa biểu của ông rõ ràng dầy chặt từ 8 giờ sáng cho đến 9 giờ đêm:

-“Cứ mỗi sáng, từ 8 đến 12 giờ, tôi phải làm những việc hôm qua còn lưu lại. Còn ông chủ, 9 giờ ông mới đến. Đến thì ông sai cắt công việc, đọc thơ tiếp khách cho đến 12 giờ. Lúc nầy ai nấy đã về cả, ông mới gọi tôi đến ngồi trước mặt ông […] Chiều đến phải viết những thơ ấy. Cái nào quan hệ (quan trọng) mới giao cho người khác đánh máy. Rồi 4 giờ ông chủ lại. Làm việc của ông đến 7 giờ, ông lại gọi tôi vào làm việc như buổi mai. Vì mỗi ngày hai giờ ngồi cùng ông mà tôi phải ở trễ.” (Phan Khôi, sđd) 

Như vậy Phan Khôi đã bắt đầu công việc dịch Kinh Thánh vào đầu năm 1921 chứ không phải vào năm 1920. 

3- Kinh Thánh Tin lành Việt ngữ in lần đầu năm 1925 (hay 1926) và nếu thế, tại sao lại ghi là “in lần thứ hai”?

Phan Nam Sinh đã đặt câu hỏi: “Lại nữa, trang đầu “Kinh Thánh” xuất bản tại Thượng Hải năm 1925 có ghi: “In lần thứ hai” […] Gần đây, […] hồi ký của William C.Cadman cho hay: Hội Thánh Kinh Anh quốc xuất bản “Kinh Thánh” Tân ước tại Hà Nội năm 1923 và toàn bộ 'Kinh Thánh' được xuất bản tại Thượng Hải vào năm 1926. Thế hóa ra khi xuất bản 'KinhThánh' Tân ước tại Hà Nội thì gọi là 'In lần thứ nhất' và khi xuất bản 'Kinh Thánh', cả Cựu ước lẫn Tân ước tại Thượng Hải thì gọi là 'In lần thứ hai'? Sao lại có chuyện kỳ lạ và thiếu khoa học đến vậy?”

Đúng, theo chúng ta thì rất là “thiếu khoa học” nhưng người viết sẽ đưa ra một giả thuyết và hy vọng được Mục sư Đặng Ngọc Báu và các tín hữu Tin Lành cho biết ý kiến. Theo sự suy nghĩ bình thường thì Kinh Thánh phải khởi dịch từ Cựu ước nhưng trong trường hợp này, hầu như mọi dịch giả, từ Cadman cho tới Lê Hoàng Phu hay Đặng Ngọc Báu, đều khởi sự với Tân ước. Theo người viết, sở dĩ họ bắt đầu với Tân ước vì đó là quan điểm truyền giáo của Hội Truyền giáo Phưóc âm Liên hiệp là rao giảng Tin Lành (Tân ước)  như Lê Hoàng Phu đã ghi lại trong luận án của ông:

-“Giảng Tin lành của Nước Trời khắp thế gian…đặc biệt ở nơi nào đấng Christ không được nghe danh, như thế khiến sự tái lâm của Chúa được mau chóng”.

Mục sư Đặng Ngọc Báu cũng phát biểu như sau: “Tôi không thể trả lời tại sao những người khác dịch Tân Ước trước Cựu Ước, nhưng riêng trường hợp của tôi, tôi có hai lý do: 1) Tôi cần Tân Ước trước để có thể chia sẻ với anh chị em tín hữu, vì Tân Ước chứa đựng nhiều lẽ đạo chính yếu của Cơ-đốc Giáo hơn Cựu Ước.  2) Tôi học lại tiếng Hy-lạp nhanh hơn học lại tiếng Hebrew.” (Thư trả lời, sđd)

Bởi thế mà Tân ưóc 432 trang mới được in (và phát hành) “lần thứ nhứt” vào năm 1923 với 2 bìa khác nhau mà một bìa có in nhan đề bằng chữ Nôm thì chỉ có 430 trang. Sau đó, toàn thể Cựu ước và Tân ước được ấn hành ("in") vào năm 1925 tại Hà nội (rồi mới được Thánh thơ Công hội chính thức phát hành tại Thượng Hải vào năm 1926) đúng như cuốn Kinh Thánh mà Phan Nam Sinh có chứ không phải vào năm 1926 như ghi không rõ  trong luận án Lê Hoàng Phu và các bài viết khác về lịch sử phiên dịch Kinh Thánh. Nếu biết như thế thì đúng là (toàn thể) Kinh Thánh Tin Lành (gồm cả Cựu ước lẫn Tân ước) phải "in lần thứ hai” dù ấn hành lần thứ nhất vì có kèm phần Tân ước mà Tân ước thì đã được in ra trước đó 2 năm.  Một lần nữa, người viết chỉ đưa ra một giả thuyết và hy vọng trong tương lai, một vị khác, cao kiến hơn, sẽ có câu trả lời xác quyết.

 

Ngoài ra, tuy cả hai cuốn này đều đề là do nhà xuất bản là Thánh thơ Công hội (“SOCIÉTÉ BIBLIQUE BRITANNIQUE ET ÉTRANGÈRE-SHANGHAI hay The Bristish & Foreign Bible Society) nhưng các tin tức trong The Call of French Indo-ChinaThe Alliance Weekly đều ghi lại rất rõ là Thánh thơ Công hội trả tốn phí in ấn “cộng thêm 25 phần trăm sở phí cho nhà in” để  Đông pháp Phước âm Ấn quán in hoàn toàn Tân ước và Kinh Thánh ở Hà nội.  Do đó, tuy bà Cadman mời Phan Khôi vào làm nhưng Thánh thơ Công hội mới chính là người trả lương cho ông.

 

Có một điều cần phải nhấn mạnh là tuy Phan Khôi là người dịch chính nhưng vai trò của bà Cadman không phải là thiêú quan trọng. Bằng cớ là, đúng như Phan Khôi nói, bà Cadman phải quyết định những vấn đề quan trọng liên quan đến thần học. Chính bà là người giữ nguyên chữ “Jesus” trong khi Phan Khôi vẫn gọi là “Chúa Gi-giu” như trong bài viết cho Thần Chung của ông. Thời đó, “Chúa Gi-giu” là một chữ thường được người không đạo dùng hơn. Phan Văn Hùm, trong Ngồi tù Khám lớn (trang 202) cũng viết y như vậy.

 

Đó là những tài liệu người viết thu thập được về công trình dịch Kinh Thánh của nhà thơ Phan Khôi và đó cũng là những nhận xét mà người viết trình bày đã căn cứ trên những tài liệu ấy. Đây là một vấn đề hết sức khó khăn cả về phương diện lịch sử văn học lẫn lịch sử phiên dịch Kinh Thánh Tin lành. Người viết chờ đợi sự góp ý của những Mục sư lãnh đạo cũng như tín hữu Tin lành để sự việc càng chính xác hơn. 

III-Một nghi án văn học liên quan đến Kinh Thánh Tin lành Việt ngữ 

Ngoài các tín hữu Tin lành, là những người có cơ hội đọc Kinh Thánh Tin lành Việt ngữ, rất ít người biết đủ để nhận ra những sự trùng hợp hoàn toàn trong bản Kinh Thánh Việt ngữ này với lời của hai bài thơ "sáng tác" vào những thập niên 1970 của bà Nhã Ca, một nhà thơ nổi tiếng của Miền Nam. Theo người viết, gần nửa thế kỷ sau khi cuốn Kinh thánh Tin lành Việt ngữ hoàn thành tại Hà nội và chính thức phát hành, một nhà thơ xuất thân từ Miền Nam đã lấy nguyên văn hay tráo qua sàng lại ý tưởng, câu và chữ trong mấy cuốn sách vẫn được mệnh danh là “các sách văn thơ” (trang 594-796) của Cựu Ước do nhà thơ Phan Khôi dịch để “làm” 2 bài “thơ” của mình (1972). Sự sang đoạt ấy đã nằm im trong Văn học Miền Nam cho tới nay khi người viết đề cập đến là 40 năm. Nhà thơ ấy trước lấy bút hiệu Thu Vân khi viết cho tờ “Văn nghệ học sinh” (thập niên 50) rồi Trần Thy Nhã Ca trên tạp chí Hiện Ðại (thập niên 60) và sau dùng hẳn Nhã Ca cho tới bây giờ. Hai bài “thơ” nói đến đây có tựa “Ðàn bà là mặt trời” và Một đoạn Nhã Ca”.

Trước đây, thơ của bà Nhã Ca được rất nhiều người có uy tín trong văn giới Miền Nam lúc bấy giờ khen ngợi nhiệt liệt, mà người cầm phướn đi tiên phong là nhà thơ Nguyên Sa. Ông đã ca ngợi hết lời  với nhận xét rằng Nhã Ca đã vượt ra được những giới hạn thông thường của phụ nữ, là một người đàn bà có "ý thức và tự do" , biết "chủ động" và "không chấp nhận vai trò thụ động" vv và vv (Nguyên Sa, "Đề tựa", Nhã Ca Mới , trang 15-20, Thư Lâm Ấn thư quán phát hành, 1964, Sài gon). Bài "Đàn  bà là mặt trời" xuất hiện lần đầu trong cuốn Thơ Nhã Ca do nhà xuất bản Thương Yêu, Hiện Ðại tổng phát hành, tháng bảy 1972, Sài gòn. Năm 1999, Thơ Nhã Ca được Vietbook USA tái bản tại Hoa Kỳvới nhan đề Nhã Ca Thơ tại Hoa Kỳ mà trong đó  “Ðàn bà là mặt trời” và Một đoạn Nhã Ca” tái xuất hiện.

Sau khi cuốn này tái xuất bản, lời ca ngợi Nhã Ca cũng tái xuất hiện, nhiệt liệt và có lẽ còn đậm đà hơn cả cái phướn bắt đầu đã ố màu của Nguyên Sa. Đinh Từ Bích Thúy--một dịch giả từng tốt nghiệp tại Đại học Hoa Kỳ, một thành viên tâm huyết trong ban chủ trương&sáng lập Diễn đàn trên Mạng Da Màu và  thuộc thế hệ người Việt thứ hai có thành ý cổ võ cho một nền văn chương trong sáng và giá trị--đã có nhận xét rất nồng hậu và quả quyết như sau về Nhã Ca:

-" Trong văn chương thế giới, có lẽ người phụ nữ có diện mạo và di sản văn chương gần nhất với Nhã Ca là Simone Weil, triết gia, nhà hoạt động chính trị, và nhà văn Pháp (1906-1943). [...]Nhã Ca là một nhà văn độc lập và bất khuất, bà cũng là một tiêu biểu rõ rệt nhất cho nền văn chương nhân bản của miền Nam trong thời kỳ 1954-1975..." (Đinh Từ Bích Thúy, "Nhã Ca Trong Văn Học Miền Nam 1954-1975: Một Huy Hoàng Trên Cỏ Mướt", http://damau.org/archives/15893)

Nếu Đinh Từ Bích Thúy dừng lại ở đó, ở những hoạt động không-Thơ của Nhã Ca thì có lẽ người viết sẽ không cần phải nhắc đến thí dụ này dù việc so sánh Nhã Ca với Simone Weil là điều rất cần nên xét lại. Nhưng Đinh Từ Bích Thúy đã  không dừng lại ở đó để không những đã tiến sang phần thơ mà lại còn trích ra đúng 4 câu trong bài “Ðàn bà là mặt trời” để nhận xét như sau:

-"Hình ảnh người đàn bà trong thơ Nhã Ca có thể huy hoàng, diễm lệ, và có tầm thước vũ trụ:

Hỡi các chị, chúng ta đều sáng như mặt trời

tinh khiết như bình minh

vì chúng ta làm ra ái tình

ra hoa lá và sự sống trên trái đất" (Đinh Từ Bích Thúy, sđd)

Cho nên, người viết bắt buộc phải chỉ ra rằng, khốn thay, chỉ 4 câu thôi mà đoạn này lại gần hệt như nguyên văn của mấy câu trong Đoạn 6, Sách Nhã Ca -Cựu Ước do Phan Khôi dịch:

-"Người nữ này là ai, hiện ra như rạng đông, Đẹp như mặt trăng, tinh sạch như mặt trời, Đáng sợ khác nào đạo quân giương cờ xí" (Sách Nhã Ca-Cựu ước, 6:10)

Ai đọc cũng thấy rõ ràng là bà Nhã Ca đã lấy "Đẹp như mặt trăng, tinh sạch như mặt trời" của Kinh Thánh để "chuyển" sang " sáng như mặt trời, tinh khiết như bình minh" (!) để làm "thơ" của mình nhưng vẫn không thể giấu được mưu toan lấy nguyên bản quá lộ liễu đó. Chưa hết, nếu người đọc (và nhất là Đinh Từ Bích Thúy) có được cuốn Thơ Nhã Ca do chính bà Nhã Ca (Tủ sách Thương yêu) xuất bản tại Sài gòn vào năm  1972 thì sẽ thấy cái mưu toan này càng lộ liễu hơn nữa vì bà Nhã Ca đã thay một chữ trong lần xuất bản năm 1999 tại Hoa Kỳ (mà Đinh Từ Bích Thúy đã dùng để trích). Đó là chữ "đẹp" thay vì chữ "sáng". Trong cuốn Thơ Nhã Ca xuất bản năm 1972, Sài gòn, 2 câu đầu được in như sau:

-"Hỡi các chị, chúng ta đều đẹp như mặt trời
tinh khiết như bình minh." (Bà Nhã Ca, trang 128, sđd)

Một lần nữa, nếu đặt 2 câu này kế 2 câu của Kinh thánh Việt ngữ thì không còn hồ nghi gì nữa:

-" đẹp như mặt trời/tinh khiết như bình minh." (Bà Nhã Ca, trang 128, sđd)-- "Đẹp như mặt trăng, tinh sạch như mặt trời" (Sách Nhã Ca-Cựu ước, 6:10)

Nếu chỉ có HAI câu trong MỘT bài này thì kể ra cũng chưa đến nỗi nào (một trong những ác mộng của nhiều thi sĩ là "nhập tâm" chữ của người khác rồi vô tình để chúng hiện ra trong thơ mình). Nhưng đây là nhiều thí dụ khác còn rõ ràng hơn nữa trong Một đoạn Nhã Ca”:

a) Nguyên bản: “Nguyện sự tối tăm mịt mịt…/…bế cửa lòng hoài thai ta” (Sách Gióp-Cựu ước, 3:6, 10, sđd, trang 596)

-“tôi nguyện sự tối tăm mù mịt/bế lòng hoài thai (Bà Nhã Ca, câu 12, 13, sđd, trang 138)

b)Nguyên bản: “Và tôi rên siết trọn ngày” (Sách Thi Thiên-Cựu ước, 32:3, sđd, trang 656)

-“tôi […]rên siết, rên siết  mãi” (Bà Nhã Ca, câu 17, sđd, trang 138)

c) Nguyên bản: “mạng sống tôi tiêu hao vì cớ buồn bực/…/sức mạnh tôi mỏn yếu …/Thật một sự ô nhục lớn cho kẻ lân cận tôi…/Kẻ nào thấy tôi ở ngoài đều trốn khỏi tôi/Tôi bị chúng quên đi như kẻ chết” (Sách Thi Thiên, 31:10, 11, 12, sđd, trang 655)

-“dẫu tôi sức yếu mỏng hao mòn vì buồn rầu/dẫu sự ô nhục bắt đầu vào lẩn trốn trong tôi/tôi bị quên đi như kẻ chết/ (Bà Nhã Ca, câu 27, 28, 29, sđd, trang 139)

Như vậy, người viết có quyền tự hỏi còn bao nhiêu câu nữa trong bài thơ này và Một đoạn Nhã Ca” mà tác giả nó -bà Nhã Ca của Văn học Miền Nam--đã lấy (hay không lấy)  của Kinh Thánh Việt ngữ Tin lành từ phần Phan Khôi đã dịch với sự cố vấn của bà Cadman? Và nếu quả thật bà Nhã Ca đã phạm vào một thứ lỗi lầm không thể dung thứ được như thế--là lấy thơ của người khác nghĩa là đã không có sự liêm khiết trí thức -- thì liệu những lời khen nhiệt liệt như của Đinh Từ Bích Thúy ("Nhã Ca...là một tiêu biểu rõ rệt nhất cho nền văn chương nhân bản của miền Nam trong thời kỳ 1954-1975") có còn đứng vững được hay chăng?  Đương nhiên là một "nền văn chương nhân bản" như "của miền Nam" cũng sẽ không thể dung thứ được một thứ không liêm khiết trí thức như vậy  nếu có thực, nói chi tới chuyện "tiêu biểu" mà lại còn "tiêu biểu nhất" cho nó thì quả đau đớn và mỉa mai cho một nền văn học có quá nhiều thi sĩ bị giam hay chết trong tù Cộng sản sau 1975!

Nói thế để cho thấy, tương tự trường hợp Thụy Khuê đã trích sai Kinh Thánh , sự ca ngợi bà Nhã Ca của ĐinhTừ Bích Thúy là một thí dụ khác cho thấy việc nghiên cứu về sự  phiên dịch Kinh thánh Tin lành Việt ngữ khó khăn như thế nào. Nhưng dù có khó khăn đến đâu, phần phiên dịch của Phan Khôi cũng như công lao của ông bà Mục sư Truyền đạo Cadman càng cần làm cho sáng tỏ để từ nay trở đi, "cái gì của Kinh thánh Việt ngữ và Phan Khôi phải trả lại cho Kinh thánh Việt ngữ và Cadman- Phan Khôi".

Vụ nghi án văn học này sẽ được người viết phân tích với nhiều chứng cớ và tài liệu trong bài tới. Như thường lệ, người viết hoan nghênh sự góp ý của độc giả và những người được nêu tên trong bài để văn sử càng lúc càng minh bạch hơn trước khi những nhân chứng (như Phan Khôi) không thể phản bác hay tự vệ được nữa.

Nguyễn Tà Cúc

http://www.gio-o.com/Chung/NguyenTaCucVoPhien.htm


Chú thích:

**Loạt bài về Kinh thánh Tin lành Việt ngữ và (dịch giả) Phan Khôi đã được đăng trên Tạp chí Khởi Hành vào năm 2012. Người viết sẽ tiếp tục hoàn chỉnh loạt bài này với những tài liệu mới. Đây là một trong những bài có thêm tin tức hay/và tài liệu mới như có thêm tin tức trong 33 bức thư của Mục sư Cadman vv.

1-“Experts Say Picasso Could Have Been Inspired by Mozarabic Bible for his Guernica Figures”
(http://www.artdaily.org/index.asp?int_sec=2&int_new=30316#.UDaSJ6AomTY[/url]
Copyright © artdaily.org
)

2- Trong bài “George Whitman, người bán sách ở Paris và một phù tiêu văn hoá, đã tạ thế hưởng thọ 98 tuổi”, bà Marlise Simons viết như sau:  “George Whitman người sinh quán ở Hoa kỳ và là chủ nhân của tiệm sách ‘Shakespeare & Company’[…] đã qua đời vào ngày thứ tư[…] Ông tiếp đón người đến tiệm sách với một chiếc bảng treo trên tường có in câu nhắn nhủ bằng chữ lớn mà ông cho là của (thi sĩ) Yeats, dù thực ra, câu này là một sự biến thiên từ một đoạn trong Kinh thánh: ‘Chớ quên sự tiếp khách; có khi kẻ làm đều đó đã tiếp đãi thiên sứ mà không biết’…”

http://www.nytimes.com/2011/12/15/books/george-whitman-paris-bookseller-and-cultural-beacon-is-dead-at-98.html?_r=1&scp=1&sq=George%20Whitman%20obituary&st=cse

3-Mục sư Lê Hoàng Phu là trưởng nam của Mục sư và bà Lê văn Long, một trong những giáo sĩ tiên phong của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam. Ông tốt nghiệp Cao học tại Wheaton College, Illinois, 1967 và Tiến sĩ tại New York University, NY, 1972. Khi trở về, ông giữ chức Giám đốc Học vụ của Thần Học Viện Nha Trang và đã soạn cũng như dịch rất nhiều sách về Thần học. Sau khi rời Miền Nam sau 1975, ông định cư tại Whittier, California và tiếp tục công việc giảng dậy cũng như trước tác. Độc giả tại ngoại quốc có thể đọc luận án tiến sĩ bản Việt ngữ của ông tựa đề “Lịch sử Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (1911-1965)” trên mạng http://tim-ai.net/?q=forum/43. hay bằng Anh ngữ trên mạng http://photos.vnbible.com/v/vnchurch/Books/LHPhu-book.jpg.html Độc giả trong nước có thể tìm mua cuốn này do Nhà xuất bản Tôn giáo ấn hành nhân Kỷ niệm 100 Năm Hội Thánh Tin Lành tại Việt Nam, 2011, 430 trang.

4-Mục sư Đặng Ngọc Báu, tốt nghiệp Thánh Kinh Thần học viện, Nha Trang và là dịch giả “Bản dịch 2011” Kinh Thánh Tin Lành, hiện đảm nhiệm chức vụ Giáo Hạt Trưởng của Giáo Hạt Đông Los Angeles (East District) của Giáo Phận Nam California và các lãnh thổ của Hoa Kỳ trong vùng Thái Bình Dương (California-Pacific Annual Conference).  Ông lãnh đạo 82 hội thánh Giám Lý Mỹ từ Alhambra đến Palm Springs/Indio.  Nhân đây, người viết xin được cảm tạ sự góp ý cũng như chỉ bảo của ông trong vấn đề này. Độc giả có thể kiểm chứng hay tìm đọc thêm Bản dịch 2011 của Mục sư Đặng Ngọc Báu (hay các bản dịch Kinh Thánh Tin lành Việt ngữ kể cả Bản truyền thống của Phan Khôi) bằng cách "download" miễn phí xuống iPhone, iPad, smartphone, hay tablet để có thể đọc bất cứ lúc nào từ www.vietchristian.com hay www.vietbible100.com . 

5-"[...]But to me the whole crux of the matter is that some future day our Indochina work should have its Bible translated direct from the original languages. There are always a loss of exactness by translating from a translation, however good the latter may be. Mrs. Cadman feels with me in this matter..." (W. C. Cadman, sđd-Những chữ trong phần dịch có ngoặc đơn, nếu có, là của người viết)

6-"[...]Mr. Olsen has not yet sent us his mss. from America. Also we find that it is most necessary to revise our part making it conform more to the Amercan Revised. The Synodale should never have been adopted. This is more of Mr. Olsen and the Rader conference. It would have been far better to have continue  as we began and use the Segond, making it conform to the Anerican Revised. We are comong back to it, thus having made a circle..." [W. C. Cadman, sđd (Những chữ trong ngoặc đơn, nếu có, là của người viết.) Chữ "mss" là viết tắt cho chữ "manuscript" (bản thảo)]

7-Muốn biết thêm chi tiết về công trình về cuốn Thánh thơ (Thánh ca Tin lành) của Cadman, độc giả có thể đọc thêm bài khảo luận của Mục sư Mã Phúc Thanh Tươi có tựa "Some Features of the Divine Songs of the Protestant Church in Vietnam", đã đăng trong tạp chí Religious Studies  Review:  Bộ 1, Số  3, trang 44-49, Tháng 10. 2007.

 

TẠP CHÍ XƯA & NAY 

doi-dieu-ve-ban-dich-kinh-thanh-nhom-gio-kinh-phung-vu-dang-thuc-hien
Đôi điều về bản dịch Kinh thánh nhóm giờ Kinh Phụng vụ đang thực hiện

Cộng đồng người Công Giáo Việt Nam đã khá quen với những phần khác nhau trong bản dịch Kinh Thánh do Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ (NPD/CGKPV) thực hiện.

dich-lai-lam-gi-pascal-nguyen-ngoc-tinh-ofm
Dịch lại làm gì ? Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh ofm

Có người quan tâm đến Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ (NPD/CGKPV) nên đặt câu hỏi : Sách Các Giờ Kinh Phụng Vụ đã dịch xong, toàn bộ Kinh Thánh cũng vậy, nay anh chị em làm gì ?

song-gio-truyen-thong
Sóng gió truyền thông

Đức Bênêđictô XVI từng điêu đứng vì bài diễn văn tại Regensburg, làm dậy sóng trong ngành truyền thông toàn cầu. Đức Phanxicô hiện nay cũng phải đối diện với nhiều lời chỉ trích sau khi ngài trả lời phỏng vấn báo La Civiltà Cattolica. Điều đáng nói ở đây là những sóng gió không đến từ chính nội dung bài phỏng vấn cho bằng từ cách hành xử của giới truyền thông.

bang-chung-thanh-linh-la
Bằng chứng Thánh Linh là "Thiên Chúa Ngôi Ba"

Kính chuyển đến quý độc giả bài viết của tác giả Đaminh Phan Văn Phước để suy nghĩ và trao đổi.

catholic-cong-giao-hay-thien-chua-giao
Catholic: Công Giáo hay Thiên Chúa Giáo?

Catholic là Công Giáo hayThiên Chúa Giáo?

Quý độc giả có thể gửi thư cho người quản trị website, đóng góp ý kiến, đưa ra những yêu cầu, thắc mắc...

Quý độc giả có thể email trực tiếp tới kinhthanhvn@gmail.com.



Xin cảm ơn!.

Hỗ trợ & Cung Cấp Website Wsup3

Copyright © 2016 KINHTHANHVN.NET.