kinhthanh

TRANG CHỦ li-category HỌC KINH THÁNH li-category Nơi chốn trong Ga 4,1-43. Samari, Sychar, giếng Giacóp, núi Gerizim

Hình từ Google maps

 

Tác giả: Giuse LÊ MINH THÔNG, O.P.

http://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com/
josleminhthong@gmail.com

Ngày 09 tháng 09 năm 2012

 

 

Nội dung

 

I.  Dẫn nhập

II. Vùng đất Samari và thành Samari

1. Giuđê – Samari – Galilê

2. Thành Samari – thành Sebaste

III. Những nơi Đức Giê-su gặp gỡ người Samari

1. Sychar – Askar – Shechem 

2. Giếng Giacóp

3. Núi Gerizim và núi Ebal

IV. Kết luận

    Thư mục

 

 

I. Dẫn nhập

 

Bài viết này bàn đến các tên riêng và địa danh trong Kinh Thánh cũng như một số tên riêng và địa danh ngoài bản văn Kinh Thánh. Để đơn giản và tiện lợi khi viết cũng như đọc, một số địa danh và tên riêng được viết giống như trong bài viết Anh ngữ: “Places in Jn 4,1-43: Samaria, Sychar, Jacob’s well, Mount Gerizim”. Trong các câu trích dẫn Kinh Thánh tên riêng được dùng theo phiên âm của bản dịch (có gạch ngang giữa các âm), trong bài viết sẽ không dùng gạch ngang. Trích dẫn Tin Mừng Gio-an lấy trong: Bản văn Gio-an,Tin Mừng và Ba thư Hy Lạp – Việt.

 

Trình thuật Đức Giê-su gặp gỡ những người Samari trong đoạn văn Ga 4,1-43 nói đến nhiều địa danh. Người thuật chuyện nhắc đến ba miền: Giuđê, Samari và Galilê ở 4,3-4: “3 Người [Đức Giê-su] rời bỏ Giu-đê và lại đi đến Ga-li-lê. 4 Nhưng Người phải băng qua Sa-ma-ri.” Những địa danh này ở đâu? Sau khi trình bày hành trình tổng quát của Đức Giê-su (4,3-4), người thuật chuyện mô tả nơi chốn cụ thể ở 4,5-6a: “5 Vậy Người [Đức Giê-su] đến một thành Sa-ma-ri, gọi là Xy-kha, gần thửa đất mà Gia-cóp đã cho Giu-se, con của ông ấy. 6a Ở đó có giếng Gia-cóp.” Một địa danh khác được nhắc tới ở cuối phần đối thoại giữa Đức Giê-su và người phụ nữ Samari. Chị ấy nói với Đức Giê-su: “Cha ông chúng tôi đã thờ phượng ở núi này; còn các ông, các ông nói rằng: ở Giê-ru-sa-lem mới là nơi phải thờ phượng” (4,20). Theo trình thuật, Đức Giê-su gặp người phụ nữ Samaria tại giếng Giacóp, gần chân núi Gerizim. Trên núi này đã từng có đền thờ của người Samari. Vì thế, khi người phụ nữ dùng kiểu nói: “núi này” (4,20), chị ấy nói tới núi Gerizim, ở ngay trước mắt chị.

 

Bài viết này sẽ bàn tới những địa danh trong đoạn văn Ga 4,1-43. Một vài bản đồ về Đất Thánh sẽ giúp nhận dạng các vùng đất Giuđê, Samari và Galilê. Sau đó sẽ bàn tới thành phố cổ Samari mà ngày nay là thành Sebaste. Điểm nhấn của câu chuyện là cuộc gặp gỡ giữa Đức Giê-su với người phụ nữ Samari bên bờ giếng Giacóp, gần thành Sychar. Chúng tôi sẽ trình bày sơ lược kết quả khảo cổ ở chung quanh thành phố Nablus ngày nay: Shechem – Sychar – Askar. Nhiều nhà khảo cổ đồng hoá làng Sychar thời Đức Giê-su với làng Askar ngày nay. Về địa danh giếng Giacóp và núi Gerizim, chúng tôi sẽ minh hoạ qua một số hình ảnh và tóm tắt lịch sử của các địa danh này.

 

Trình bày về những địa danh và nơi chốn trong Ga 4,1-43 có thể giúp độc giả thưởng thức những hình ảnh thực tế và sinh động của câu chuyện. Nhưng điều quan trọng hơn là qua bức tranh đẹp và sinh động ấy, người thuật chuyện mời gọi độc giả vượt qua, vượt lên trên những nơi chốn cụ thể, để từ đó áp dụng ý nghĩa câu chuyện vào những cuộc gặp gỡ hằng ngày của độc giả hôm nay.

 

II. Vùng đất Samari và thành Samari

 

1. Giuđê – Samari – Galilê

 

Bản đồ vùng đất Palestine thời Đức Giê-su:

 

Bản đồ từ History Online

 

Vào thời Đức Giê-su, vùng đất Palestine được chia thành ba miền: Miền Giuđa ở phía Nam, miền Samari ở giữa và miền Galilê ở phía Bắc (xem bản đồ). Vào thời Đức Giê-su rao giảng công khai, miền Giuđê và Samari là một tỉnh của đế quốc Rôma. Miền Galilê và Peraea thuộc quyền vua Hêrôđê Antipas. Vùng Gaulanitis thuộc quyền vua Hêrôđê Philíp II. Lãnh thổ Decapolis (Thập Tỉnh), tiếng Hy Lạp có nghĩa là mười (deca) thành (polis). Decapolis là nhóm 10 thành ở về biên giới phía Đông của đế quốc Rôma, tiếp nối vùng đất Giuđê và Syri. Quy chế chính trị của 10 thành này vào thời đó là tự trị (autonomous cities).

 

      2. Thành Samari – thành Sebaste

 

Người thuật chuyện cho độc giả biết ở 4,3-4: “3 Người [Đức Giê-su] rời bỏ Giu-đê và lại đi đến Ga-li-lê. 4 Nhưng Người phải băng qua Sa-ma-ri.” Trong câu này, tên gọi Samari không phải là thành Samari mà là vùng đất Samari. Đã từng hiện hữu một thành Samari hùng mạnh và là thủ đô của Vương quốc Ítraen ở miền Bắc (vương quốc Giuđa ở miền Nam). Thủ đô Samari do vua Omri (khoảng 885-874 BCE) thiết lập và kéo dài cho đến khi thành Samari bị Sargon II chiếm vào năm 721 BCE (Before the Common Era, Before the Current Era hay Before the Christian Era) và vương quốc Ítraen phía Bắc bị sụp đổ. Đến thời đế quốc Hy Lạp, thành Samari bị Alexander đại đế đánh chiếm năm 331 BCE. Đến khoảng năm 108 BCE, thành Samari lại bị John Hyrcan tàn phá (cf. Josephus Ant. 13:275-281). Dưới thời đế quốc Rôma, Pompey xây dựng lại thành Samari khoảng năm 63 BCE. Đến năm 27 BCE, hoàng đế Augustus Caesar cho vua Hêrôđê Cả (Herod the Great) thành này, vua Hêrôđê Cả đã mở rộng và xây dựng lại thành Samari rồi đặt lại tên thành là “Sebaste”, tiếng Hy Lạp có nghĩa là “Augustus”, để tôn vinh hoàng đế. Vì thế, vị trí thành “Sebaste” trong bản đồ trên đây là thành “Samari” trong bản đồ Samari cổ dưới đây.

 

Thành Samari-Sebaste để lại nhiều di tích khảo cổ quan trọng. Những khai quật cho thấy vị trí thành Samari-Sebaste đã tìm thấy dấu vết của sáu nền văn hoá, trải qua sáu thời đại khác nhau: Canaanite, Israelite, Hellenistic, Herodian, Roman và Byzantine. 

 

Đức Giê-su phải băng qua Samari (4:4), nhưng đâu là nơi Đức Giê-su gặp gỡ người phụ nữ Samari? Nơi Đức Giê-su ở lại với những người Samari là ở chỗ nào? Phần tiếp theo sẽ bàn đến các địa danh: “Sychar – Askar – Shechem” (4,5a); thửa đất Giacóp đã cho Giuse (4,5b), Giếng Giacóp (4,6a) và “núi này” (4,20a), tức là núi Gerizim. 

III. Những nơi Đức Giê-su gặp gỡ người Samari

 

Bản đồ vùng Samari cổ

 

Bản đồ từ History Online

 

Ở giữa miền đất Samari trên bản đồ, chúng ta thấy các địa danh: Askar, Shechem, Nablus, núi Ebal và núi Gerizim, vậy thành Sychar và giếng Giacóp ở đâu?

 

1. Sychar – Askar – Shechem

 

Thành Sychar được người thuật chuyện mô tả như sau: “Vậy Người [Đức Giê-su] đến một thành Sa-ma-ri, gọi là Xy-kha [Sychar], gần thửa đất mà Gia-cóp đã cho Giu-se, con của ông ấy. Ở đó có giếng Gia-cóp” (4,5-6a). Thánh Giêrônimô đồng hoá thành Sychar với thành Shechem. Người ta cũng tìm thấy trong thủ bản Syriac thay vì viết Sychar thì viết là Shechem, nhưng rất có thể người sao chép bản văn (copyist) đã sửa Sychar thành Shechem. Đa số tuyệt đối các thủ bản viết Sychar. Câu hỏi đặt ra là thành Sychar ở đâu?

 

Mô tả ở Ga 4,5-6 gợi lại trình thuật trong sách Sáng thế ở 33,18-20: “18 Khi ở Pát-đan A-ram về, ông Gia-cóp đến thành Si-khem, trong đất Ca-na-an, bình an vô sự, và ông cắm trại đối diện với thành. 19 Ông tậu của con cái ông Kha-mo, cha của Si-khem, một thửa đất, nơi ông đã căng lều, với giá một trăm đồng bạc. 20 Tại đây, ông dựng một bàn thờ mà ông gọi là “Ên, Thiên Chúa của Ít-ra-en” (St 33,18-20, NPD/CGKPV) Đoạn văn nói về Sikhem (Shechem) chứ không nói đến thành Sychar. Trong toàn bộ Kinh Thánh, địa danh “Sychar” chỉ được nói đến một lần ở Ga 4,5. Vì thế, một số nhà chuyên môn đã muốn đồng hoá thành Sychar với thành cổ Shechem. Tuy nhiên, xu hướng đa số các nhà khảo cổ ngày nay đồng hoá thành Sychar với Askar, một làng nhỏ hiện nay.

 

Tiêu chuẩn để biết vị trí của thành Sychar là (1) gần thửa đất mà Giacóp đã cho Giuse (4,b) và (2) không xa giếng Giacóp (4,6a). Một số nhà chuyên môn đồng hoá Sychar với thành cổ Shechem bởi vì kết quả khảo cổ cho thấy thửa đất mà Giacóp đã cho Giuse ở bên cạnh những di tích của thành Shechem cổ, thành này gần với khu vực ngày nay gọi là Balata (xem SCHEIN, Following the Way, 1980, p. 205).

 

Tuy nhiên, nhiều nhà chuyên môn khác cho rằng: Thành Sychar nói đến trong Ga 4,5 là làng Askar (xem bản đồ trên đây). Rudolf Schnackenburg viết: “Địa danh mà tác giả Tin Mừng gọi là Sychar (hay Sichar) được đa số đồng hoá với làng Askar ngày nay, đó là một ngôi làng nhỏ cách giếng Giacóp hơn nửa dặm (hơn 800 mét) theo hướng Đông – Bắc” (SCHNACKENBURG, The Gospel, vol. I, p. 423). Ga 4,5 mô tả gọi Sychar bằng từ Hy Lạp “polis” có nghĩa là “thành” hay ít  ra cũng là một “thị trấn”. Những khảo cổ ở khu vực Balata ngày nay cho thấy vết tích của thành Shechem cổ, nhưng không biết rõ khi nào ngôi làng mới được thành lập. Bởi vì thành Shechem cổ đã bị John Hyrcan tàn phá năm 128 BCE. Thành phố mới Flavia Neapolis (cách thành Shechem cổ khoảng 2,5 km) chưa xuất hiện vào thời Đức Giê-su (30-33 CE). Bởi vì Flavia Neapolis được hoàng đế Vespasian xây dựng vào năm 72 CE (Common Era, Current Era hay Christian Era). Ngày nay thành phố này có tên gọi Nablus. Trên bản đồ dưới đây chỉ ra thành Sychar và giếng Giacóp:

 

Hình từ http://bibleatlas.org/sychar.htm

 

Làng Askar ngày nay nằm gần chân núi Ebal, phía Đông – Bắc giếng Giacóp. Mảnh đất gần làng Askar thường được cho là thửa đất mà Giacóp đã cho Giuse (4,5b). Cho dù làng Askar chỉ xuất hiện thời người Ả rập đến ở vùng đất Palestine, có thể cho rằng làng Askar được xây dựng trên thành cổ Sychar.

 

Tóm lại, dựa trên kết quả khảo cổ ngày nay, địa danh thành Sychar có thể định vị tại làng Askar ngày nay. Đó là một thị trấn của người Samari, ở dưới chân núi Ebal gần giếng Giacóp. Có thể đã có một cộng đoàn Kitô hữu ở Sychar vào lúc Tin Mừng Gio-an được biên soạn cuối thế kỷ I CE.

 

      2. Giếng Giacóp

 

“Giếng Giacóp vẫn còn đó cho đến ngày nay, nơi đã được khách hành hương trước đây nói tới. Giếng này chắc chắn là xác thực cho dù không được nói đến trong Cựu Ước” (SCHNACKENBURG, The Gospel, vol. I, p. 424). Đây là hình chụp giếng Giacóp vào năm 1894:

 

Hình từ http://hitch.south.cx

 

Giám mục John H. Vincent giải thích tấm hình này trong “Earthly Footsteps of the Man of Galilee”, khi viếng thăm giếng năm 1894 như sau: “Giếng Giacóp hiện nay thuộc về một nhà thờ Hy Lạp (…). Giếng này sâu 75 feet (22,8 mét), bề rộng là 7 feet 6 inches (2,30 mét). Đường kính mặt bằng giếng là 17,5 feet (5,3 mét). Một tầng hầm mái vòm bao phủ trên giếng, có chiều dài 20 feet (6 mét), chiều rộng 10 feet (3 mét) và chiều cao 6 feet (1,8 mét). Những tảng đá cẩm thạch bị vỡ ở phía trước tấm hình thuộc về một số nhà thờ cổ xưa” (http://hitch.south.cx/biblesidenotes-e20%20Jacobs%20Well.htm).

 

Hội Thánh Chính Thống Hy Lạp đã mua khu đất đổ nát của nhà thờ trên, là nơi ghi nhớ biến cố Đức Giê-su gặp gỡ người phụ nữ Samari bên bờ giếng Giacóp (Ga 4). Hội Thánh Chính Thống Hy Lạp đã khởi công xây dựng một nhà thờ mới từ trước Thế Chiến thứ nhất (the First World War), nhưng khi mới chỉ xây được một phần của những bức tường phía ngoài thì đã phải ngưng lại vì chiến tranh. Đây là tấm hình chụp năm 1999. Công việc xây dựng nhà thờ đang được xúc tiến:

 

Hình chụp tháng 11/1999, từ http://welcometohosanna.com

 

Sau hơn 80 năm dang dở, nhà thờ đã được hoàn tất năm 2007. Đây là nhà thờ thánh Photina ngày nay, thuộc Hội Thánh Chính Thống Giáo Hy Lạp: 

 

  

Hình từ http://welcometohosanna.com

 

Hình của ssiatravani

 

Bên trong nhà thờ thánh Photina:

 

Hình chụp năm 2009 của Ferrell Jenkins

 

Đây là giếng Giacóp ở dưới hầm mộ (crypt) của nhà thờ:

 

Hình chụp từ post card

 

 

Hình của ssiatravani

 

Đây là miệng giếng Giacóp:

 

Hình của ssiatravani

 

Giếng thì không thể di chuyển đi nơi khác, vì thế chúng ta có thể xác định đây là nơi mà Đức Giê-su đã vất vả vì đi đường nên ngồi xuống bờ giếng, và Người đã gặp gỡ và mặc khải cho người phụ nữ Samari biết Người là ai. Đúng như người phụ nữ đã nói với Đức Giê-su: “Thưa Ông, Ông không có gầu và giếng lại sâu…” (4,11). Đúng vậy, giếng sâu hơn 21 mét và ngày nay, giếng Giacóp vẫn có nước mát và trong có thể uống được (WALKER, In the Steps of Jesus, 2006, p. 87-88). Vào thời Đức Giê-su giếng có thể sâu hơn. Các truyền thống Do Thái giáo, Samari, Kitô giáo và Hồi giáo đều liên kết giếng này với tổ phụ Giacóp. 

      3. Núi Gerizim và núi Ebal

 

 Hình từ BiblePlaces.com

 

Núi Gerizim bên phải và núi Ebal bên trái

 

Núi Gerizim thuộc vùng đồi núi Samari, núi này cao khoảng 868 mét so với mực nước biển Địa Trung Hải và cao 244 mét tính từ chân núi. Núi Ebal bên cạnh, cao 938 mét so với mực nước biển Địa Trung Hải và cao 366 mét tính từ chân núi (xem chi tiết tại http://bibleatlas.org và http://classic.net.bible.org). Giữa hai núi Gerizim và Ebal là vùng đất thành Shechem cổ (ngày nay là thành Nablus). Sychar (Askar) ở chân núi Ebal và phía nam là giếng Giacóp theo hướng núi Gerizim.

 

Theo sử gia Josephus, Sanballat là thủ lãnh người Samari đã xây một đền thờ trên núi Gerizim, và thiết lập làng tư tế đối lập với đền thờ và tư tế ở Giêrusalem (cf. Josephus Ant. 11:8,2-4). Sự căng thẳng về tôn giáo giữa người Do Thái và người Samari đã dẫn đến biến cố John Hyrcan phá huỷ đền thờ trên núi Gerizim vào cuối thế kỷ II BCE. Trước đó đền thờ Gerizim đã tồn tại 200 năm. Vào thời kỳ Kitô giáo được đế quốc Rôma nhìn nhận và phát triển trên toàn đế quốc, một nhà thờ Kitô giáo hình bát giác (octagonal church) được xây dựng trên núi Gerizim vào năm 475 CE. Sau đó nhà thờ này bị người Hồi Giáo phá huỷ vào thế kỷ VIII. (xem WALKER, In the Steps of Jesus, 2006, p. 89). Đây là di tích nhà thờ Kitô giáo trên núi Gerizim ngày nay:

 

Hình của Ron Peled

 

 

Hình từ Illustrated Dictionary

 

Vào thời Giôsua núi Gerizim và núi Ebal là nơi Giôsuê đọc những lời chúc phúc và nguyền rủa trong sách Luật cho dân nghe (Gs 8,30-35). Vào thời Đức Giê-su, núi Gerizim gần giếng Giacóp, là nơi Đức Giê-su gặp gỡ người phụ nữ Samari. Núi Gerizim chính là “núi này” trong lời người phụ nữ nói với Đức Giê-su ở 4,20: “Cha ông chúng tôi đã thờ phượng ở núi này…” 

 

IV. Kết luận

 

Bối cảnh lịch sử của Ga 4,1-43 liên quan đến một số địa danh ở Đất Thánh. Trong đoạn văn này người thuật chuyện nói đến nhiều địa danh: các vùng đất Giuđê, Samari, Galilê, thành Sychar, giếng Giacóp và “núi này” tức là núi Gerizim. Trình thuật Ga 4,1-43 tập trung vào hai cuộc gặp gỡ: (1) Đức Giê-su và người phụ nữ Samari (4,7-26), (2) Đức Giê-su ở lại với dân thành Sychar hai ngày (4,37-42). Một số thông tin về các nơi chốn trên đây trong dòng lịch sử, từ Cựu Ước đến Tân Ước và cho đến ngày nay, có thể giúp độc giả hiểu rõ hơn thông điệp của câu chuyện: “Ở đâu” và “bằng cách nào” Đức Giê-su đã thực hiện sứ vụ của Người và mặc khải chính Người cho người Samari. 

 

Samari là vùng đất ngoài lãnh thổ Do Thái Giáo, người Samari bị người Do Thái xem như là người ngoại. Đối diện với nhiều rào cản: khác nhau về niềm tin (người Do Thái – người Samari), khác nhau về phái tính (nam giới - nữ giới), khác nhau về nơi thờ phượng (Giêrusalem - Gerizim), Đức Giê-su đã giải thoát người phụ nữ Samari và dân thành Sychar khỏi tất cả những rào cản trên ngang qua cuộc gặp gỡ và nhờ những lời mặc khải của Người. Đức Giê-su đã mặc khải cho người phụ nữ Samari, và qua chị, mặc khải cho mọi người biết sự thờ phượng đích thực trong đoạn văn 4,21.23a: “21 Hãy tin Tôi, giờ đến, không phải ở trên núi này cũng chẳng phải ở Giê-ru-sa-lem, các người sẽ thờ phượng Cha. (22…). 23a Nhưng giờ đến – và là bây giờ –, khi mà những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Cha trong thần khí và sự thật.”

 

Việc thờ phượng dựa trên một nơi chốn cụ thể thì bị giới hạn trong không gian và thời gian, đồng thời thường dẫn đến tranh chấp và xung đột. Sự thờ phượng đích thực của người môn đệ Đức Giê-su không dựa trên nơi chốn nhưng đặt nền tảng trên cách thức: “thờ phượng trong Thần Khí và sự thật”. Nói cách khác, người môn đệ Đức Giê-su hiện diện ở đâu, thì ở đó là nơi thờ phượng đích thực. Nghĩa là người môn đệ có thể thờ phượng Chúa Cha, một cách đích thực, trong Thần Khí và sự thật, ở bất cứ đâu và bất cứ lúc nào.

 

Cuộc gặp gỡ giữa Đức Giê-su và người phụ nữ Samari đã diễn ra ở một nơi cụ thể: giếng Giacóp, gần thành Sychar miền Samari. Tuy nhiên câu chuyện mời gọi độc giả đi xa hơn những địa danh trong trình thuật. Người môn đệ của Đức Giê-su là người có khả năng biến đổi những cuộc gặp gỡ hằng ngày thành những cuộc gặp gỡ tương tự như chuyện đã xảy ra bên bờ giếng Giacóp năm xưa. Qua câu chuyện, người thuật chuyện khích lệ cộng đoàn tín hữu thực hiện sứ vụ trong thế gian. Vì thế, nếu như những cuộc gặp gỡ hằng ngày của người môn đệ hôm nay có khả năng giải thoát người khác khỏi mọi hình thức ngăn cách khác nhau (niềm tin, giới tính, nơi thờ phượng) và dẫn mọi người tới sự chia sẻ, đối thoại, và nhận ra Đức Giê-su là Đấng cứu độ thế gian, thì thông điệp của trình thuật đã và đang được thực hiện./.

 

Thư mục

 

KEENER, Craig S., The Gospel of John. A Commentary, vol. I and II, Peabody (MA), Hendrickson Publishers, 2003, 1636 p.

 

Revised Standard Version - Second Catholic Edition, 2006 (RSV-SCE).

 

SCHEIN, Bruce E., Following the Way, the setting of John’s Gospel, Minneapolis (MN), Augsburg Publishing House, 1980.

 

schnaCkenburg, Rudolf, The Gospel According to St. John, vol. I: Introduction and Commentary on Chapter 1–4, New York, The Crossroad Publishing Company, (1965), 1987, 638 p. (Orig. Das Johannesevangelium, 1965).

 

WALKER, Peter, In the Steps of Jesus, an Illustrated Guide to the Places of the Holy Land, Oxford, Lion Hudson, 2006. 

WIGODER, Geoffrey, (Ed.), The Illustrated Dictionary & Concordance of the Bible, New York (NY), Sterling Publishing, 2005.

 

Tài liệu Internet:

Bible Encyclopedia: http://christiananswers.net/dictionary/

Bible History: http://www.bible-history.com/maps/

Bible Places: http://bibleplaces.com/

Bible Study Tools: http://www.biblestudytools.com/

Biblos: http://biblos.com/

Catholic Encyclopedia: http://www.newadvent.org/cathen/

Christian Answers: http://christiananswers.net/

Holy Land Photos: http://www.holylandphotos.org/

Life in the Holy Land: http://www.lifeintheholyland.com/

NET BIBLE: http://classic.net.bible.org/home.php

 

 

Ngày 09 tháng 09 năm 2012

Giuse LÊ MINH THÔNG, O.P.

Nguồn: http://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com/2012/09/noi-chon-trong-ga-41-43-samari-sychar.html

hai-thu-gui-giao-doan-thexalonica-1
Hai thư gửi giáo đoàn Thêxalônica-1

Cho tới thời gian gần đây giới học giả Kinh Thánh Tân Ước đều tin rằng thư thứ nhất gửi giáo đoàn Thêxalônica là tài liệu cổ xưa nhất trong các tác phẩm của Kinh Thánh Tân Ước. Lý do là vì nó được thánh Phaolô viết giữa các năm 50-51, tức 20 năm sau khi Đức Giêsu Kitô tử nạn và phục sinh.

càu-nguyẹn-vói-thánh-vịnh-nguyèn-rủa
Cầu nguyện với Thánh vịnh nguyền rủa

Khi nói về bộ Thánh Vịnh, nhà chú giải Charpentier đã mượn lời André Chouraqui, một thi sĩ Do Thái, để nói về chỗ đứng của Thánh Vịnh trong lòng người tin[1] : "Chúng tôi sinh ra với quyển Thánh Vịnh trong bụng mình. Đây là một quyển sách gồm 150 bài thơ, 150 bậc giữa cái chết và sự sống, 150 tấm gương phản ánh những cuộc nổi loạn và những sự bất trung của chúng ta, những cơn hấp hối và những lần hồi sinh của chúng ta.

mung-nam-muoi-ba-tuoi-hien-che-tin-ly-ve-mac-khai-cua-thien-chua
Mừng năm mươi ba tuổi Hiến Chế tín lý về Mạc Khải của Thiên Chúa.

Sau năm chương có tính tín lý về Mạc Khải và Sách Thánh, Công đồng chuyển sang huấn thị mang tính mục vụ qua lời khẳng định: “Hội Thánh vẫn tôn kính Thánh Kinh như tôn kính chính Thánh Thể Chúa, đặc biệt trong Phụng Vụ Thánh, Hội Thánh không ngừng lấy bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa và bàn tiệc Mình Chúa Ki-tô để trao ban cho các tín hữu...

loi-chua-la-nguon-mach-cua-giao-huan-xa-hoi-cong-giao
Lời Chúa là nguồn mạch của giáo huấn xã hội công giáo.

Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội Công Giáo không phải là một ý thức hệ, một lý thuyết xã hội hay một hệ thống kinh tế thuần tuý mà là cách thế diễn giải và áp dụng Lời Chúa vào lãnh vực xã hội. Vì thế, Giáo huấn xã hội của Giáo Hội không chủ trương đưa ra những giải pháp kỹ thuật cho vấn đề chậm tiến và cũng chẳng đề xuất các chương trình xã hội hay chính trị cụ thể.

nghe-thuat-ke-chuyen-kinh-thanh-paul-ngo-dinh-si
Nghệ thuật kể chuyện Kinh Thánh - Paul Ngô Đình Sĩ.

Trong bối cảnh của hội nghị về đề tài "mục vụ Kinh Thánh", có lẽ không phải là lúc chúng ta viết những bài tham luận chuyên môntrên một chủ đề Kinh Thánh hay một đoạn văn Kinh Thánh. Tôi thiết nghĩ đây là ưu tư của các giám mục Việt Nam, chủ chăn của đoàn dân Thiên Chúa, đã muốn cho Lời Thiên Chúa đến với mọi tâm hồn. Giáo hội Việt Nam chúng ta còn may mắn quy tụ còn đông đảo mọi giới đến với các nghi lễ phụng vụ và các sinh hoạt giáo lý và đoàn thể.

dan-than-xa-hoi-bai-hoc-tu-nhan-vat-tobit-lm-giuse-pham-tuan-nghia-sj
Dấn thân xã hội: Bài học từ nhân vật Tobit - Lm. Giuse Phạm Tuấn Nghĩa, SJ.

Trong quy điển Thánh Kinh Công Giáo, Sách Tobit được xếp vào thể loại các Sách Sử, vì đề cập đến nhiều yếu tố mang tính niên đại, nhưng nội dung của sách cũng phản ánh nhiều điểm tương đồng với dòng Văn Chương Khôn Ngoan. Sách Tobit được xếp ngay sau Sách Nehemiah và ngay trước Sách Judith. Sách Tobit gồm có 14 chương, xoay quanh một số nhân vật tiêu biểu như: cậu Tobiah...

Quý độc giả có thể gửi thư cho người quản trị website, đóng góp ý kiến, đưa ra những yêu cầu, thắc mắc...

Quý độc giả có thể email trực tiếp tới kinhthanhvn@gmail.com.



Xin cảm ơn!.

Hỗ trợ & Cung Cấp Website Wsup3

Copyright © 2016 KINHTHANHVN.NET.