kinhthanh

TRANG CHỦ li-category HỌC KINH THÁNH li-category Học và Sống Năm Kinh Thánh li-category Học hỏi Thánh Kinh 100 tuần – Tuần 88 và 89

Tuần 88: Thư Philipphê và thư Philêmon

philipheI. TỔNG QUÁT VỀ THƯ PHILIPPHÊ

Vào thời điểm thánh Phaolô viết thư này cho cộng đoàn, Philipphê là một thành phố thuộc Roma nằm dọc theo Via Egnatia là con đường thương mãi và quân sự của đế quốc Roma, chỉ cách Neapolis khoảng 15 cây số. Dù là thành phố của Roma nhưng dân cư ở đây lại thuộc nhiều dân tộc như tên gọi của một số người được nhắc đến trong thư cho thấy, vd. Clemente là tên Roma, còn Epaphroditus và Synteche là tên Hi lạp.

Vào thời điểm đó, cộng đoàn tín hữu tại Philipphê có một số khó khăn. Một đàng là những người láng giềng thù nghịch với đức tin Kitô giáo, đàng khác là những nhà truyền giáo đến rao giảng Tin Mừng nhưng lại trình bày một sứ điệp khác với sứ điệp thánh Phaolô trình bày. Ngoài ra chính trong cộng đoàn cũng có những bất đồng và bất hoà. Bối cảnh này giúp ta hiểu rõ hơn những giáo huấn của thánh Phaolô trong thư Philipphê.

Theo các học giả Thánh Kinh, thư Philipphê không phải là một tài liệu xuyên suốt từ đầu đến cuối. Đúng hơn, đây là tập hợp ba lá thư được phân chia như sau :

– Thư A (4,10-20): thư cảm ơn về việc cộng đoàn Philipphê trợ giúp tiền bạc cho Phaolô hai lần, lần thứ nhất khi ngài ở Thessalonica (4,16), và lần này khi ngài đang lâm cảnh khốn khó (4,14), có lẽ ám chỉ cảnh tù tội sẽ được bàn đến dài hơn trong Thư B.

– Thư B (1,1 – 3,1a; 4,4-7. 21-23): phần dài nhất. Thánh Phaolô đã phải ngồi tù ít lâu và đang mong ngóng xem kết quả ra sao. Thế nhưng chính trong cảnh khó khăn, ngài lại cảm nhận niềm vui trong Chúa, và ngài muốn chia sẻ niềm vui đó với các tín hữu cũng như khuyến khích họ chia sẻ với nhau. Ngài cũng quan tâm đến việc có những nhà truyền giáo khác đến với cộng đoàn, và ngài khuyến khích cộng đoàn duy trì sự hiệp nhất.

– Thư C (3,1b – 4,3. 8-9): được viết sau khi ra khỏi tù. Trong thư này, thánh Phaolô quan tâm đặc biệt đến hai việc, một là chống lại những thầy dạy giả hiệu đã xâm nhập cộng đoàn và gây xáo trộn, hai là giàn xếp sự bất hoà giữa hai phụ nữ có vai trò hướng dẫn trong cộng đoàn.

Cả ba lá thư này được viết trong khoảng thời gian tương đối gần nhau. Nếu Ephêsô là nơi thánh Phaolô bị giam giữ, thì những thư này được viết trong khoảng năm 55 – 57. Trong phần tìm hiểu kế tiếp, ta có thể chọn từng đoạn trong ba phần trên để chia sẻ với nhau.

II. LÒNG QUẢNG ĐẠI CỦA CÁC TÍN HỮU PHILIPPHÊ (4,15-19)

Kể từ khi Tin Mừng được rao giảng ở Macedonia, trong số các Hội Thánh đã đón nhận Tin Mừng, chỉ có các tín hữu Philipphê đã chia sẻ với thánh Phaolô khi ngài gặp cơn quẫn bách. Thật vậy, sau khi đón nhận Tin Mừng, các tín hữu Philipphê đã hai lần gửi tiền bạc trợ giúp thánh Phaolô khi ngài ở Thessalonica (1Thes 2,9). Ngài viết thư cảm ơn không phải để mong có thêm quà tặng nhưng mong rằng lòng quảng đại sẽ đem lại hoa trái dồi dào cho họ. Thánh nhân nhấn mạnh, “Quà anh em tặng cho tôi đó chẳng khác nào hương thơm, lễ vật đẹp lòng Thiên Chúa và được Người chấp nhận” (4,18), và Thiên Chúa “sẽ thoả mãn mọi nhu cầu của anh em cách tuyệt vời, theo sự giàu sang của Người trong Đức Kitô Giêsu” (4,19).

Các tín hữu Philipphê đã đóng góp tích cực cho công cuộc truyền giáo của thánh Phaolô, không chỉ bằng lời cầu nguyện mà còn bằng chia sẻ vật chất. Khi Phaolô cho biết cộng đoàn Philipphê là cộng đoàn duy nhất đã giúp đỡ ngài như thế, nhận xét này thật đáng buồn vì cho thấy phần đông các tín hữu chưa quan tâm đủ đến việc truyền giáo. Liệu đó có phải là thực trạng của hôm nay? Khi nói đến quà tặng của các tín hữu, thánh Phaolô sử dụng ngôn ngữ trong đời sống thờ phượng, coi đó là “lễ vật” và “hương thơm” dâng lên Chúa. Cách nói này giúp ta có cách nhìn mới về ý nghĩa và giá trị của những việc bác ái trong đời sống hằng ngày.

III. ĐỜI SỐNG KITÔ HỮU (1,27 – 2,18)

Thánh Phaolô nhắc nhở các tín hữu phải “ăn ở làm sao cho xứng với Tin Mừng Đức Kitô” (1,27). Sống Tin Mừng không phải là điều dễ dãi, đúng hơn đó là một cuộc chiến đấu. Nhưng Phaolô lại nhìn những gian truân vất vả trong cuộc chiến đó là một phúc lành chứ không phải hình phạt, “Quả thế, nhờ Đức Kitô, anh em đã được phúc chẳng những là tin vào Người mà còn được chịu đau khổ vì Người” (1,29). Ngài nói điều này không như một bài giáo huấn lý thuyết nhưng trước hết như kinh nghiệm bản thân.

Cách cụ thể, thánh Phaolô nói đến một số nét đặc trưng của đời sống Kitô hữu: sự an ủi trong Đức Kitô, sự khích lệ của tình bác ái, sự hiệp thông trong Thánh Thần, biết cảm thông và thương xót (2,1). Nếu các tín hữu sống được như thế, họ sẽ “có cùng một cảm nghĩ, cùng một tâm hồn, cùng một ý hướng như nhau” (2,2). Họ sẽ đối xử với nhau không theo tính kiêu căng ích kỷ nhưng với lòng khiêm tốn, coi người khác hơn mình và biết quan tâm đến nhu cầu của người khác hơn là chỉ biết đến nhu cầu của bản thân.

Ở đây thánh Phaolô đưa ra mẫu mực tuyệt đối là chính Chúa Giêsu Kitô, “Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô Giêsu” (2,5), sau đó ngài trích dẫn một thánh thi về Chúa Kitô (2,6-11).

Đức Kitô Giêsu đã không ích kỷ bám vào địa vị ngang hàng với Thiên Chúa. Ngài hoàn toàn trái nghịch với Adam là người đã sa vào cơn cám dỗ muốn nên như Thiên Chúa, ngang hàng với Thiên Chúa (x. Kn 3,5). Đức Giêsu đã tự nguyện trút bỏ vinh quang để mặc lấy thân nô lệ mà Adam đã để lại cho nhân loại. Và Đức Giêsu đã đi đến cùng con đường “huỷ mình ra không” này khi hạ mình vâng phục cho đến chết, và chết trên thập giá (2,8). Trong các bản văn cổ nhất về thánh thi này, chỉ nói đến cái chết chứ không nhắc đến thập giá. Nhưng đối với Phaolô, thập giá chính là biểu tượng vinh quang (1Cor 1,18) nên ngài nhấn mạnh rằng Đức Giêsu đã chết trên thập giá.

Nếu con đường kiêu căng tự mãn của Adam, muốn “nên như Thiên Chúa,” đã dẫn đến thất bại và huỷ diệt, thì ngược lại, Đức Giêsu đã được Thiên Chúa tôn vinh và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu (2,9) đến nỗi “vừa nghe Danh Thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: Đức Giêsu Kitô là Chúa” (2,10-11).

Có lẽ Phaolô vận dụng thánh thi này để đáp ứng những gì ngài muốn các tín hữu Philipphê quan tâm, tức là sự khiêm tốn, huỷ mình ra không đến nỗi chấp nhận cả cái chết. Cũng như Thiên Chúa đã tôn vinh Đức Giêsu, thì những Kitô hữu nào chấp nhận đau khổ và chết vì đức tin cũng sẽ được ban tặng sự sống mới khi Chúa trở lại (1Thes 4,13-18).

IV. THƯ PHILÊMON

Đức Bênêđictô XVI giải thích ý nghĩa của thư Philêmon như sau: “Đây là một bức thư cá nhân mà thánh Phaolô đã viết trong tù và giao cho người nô lệ chạy trốn (Onêsimô) gửi đến cho chủ của anh là Philêmon. Thực vậy, Phaolo đã trả người nô lệ này cho chủ, về nơi anh ta đã bỏ trốn, và ngài không truyền lệnh nhưng nài van: “Tôi van xin anh cho đứa con của tôi, đứa con tôi đã sinh ra trong cảnh xiềng xích… tôi xin gửi nó về cho anh; xin anh hãy đón nhận nó như người ruột thịt của tôi… Nó đã xa anh một thời gian, có lẽ chính là để anh được lại nó cách vĩnh viễn, không phải được lại một người nô lệ, nhưng thay vì một người nô lệ, thì là một người anh em rất thân mến” (1,10-16). Những con người vốn quan hệ với nhau như chủ nhân và nô lệ, trong điều kiện xã hội của họ, nhưng nay trong tư cách là thành viên của Giáo Hội duy nhất, họ đã trở nên anh chị em với nhau, đó là cách mà các Kitô hữu xưng hô với nhau. Họ được tái sinh nhờ bí tích Thánh Tẩy, được uống cùng một Thánh Thần, và cùng nhau lãnh nhận Mình Thánh Chúa. Dù cho cơ cấu bên ngoài vẫn y nguyên, việc này đã thay đổi xã hội từ bên trong. Nếu Thư Do Thái nói rằng những Kitô hữu không có nơi định cư vĩnh viễn trên trần gian này, nhưng tìm kiếm một chốn định cư tương lai (11,13-16), thì điều này không chỉ đơn giản là hướng về viễn cảnh tương lai: người Kitô hữu xem xã hội hiện tại như một xã hội bất toàn; họ thuộc về một xã hội mới, xã hội đó là cùng đích hành trình của họ, và cũng là điều mà họ cảm nghiệm trước ngay trong cuộc lữ hành này.” (Thông điệp Spe Salvi, số 4)


Tuần 89: Thư Côlôsê và thư Êphêsô

THƯ CÔLÔSSÊ

I. THÁNH THI VỀ CHÚA KITÔ (1,15-20)

Cũng như thánh thi trong thư Philipphê 2,6-11, thánh thi này là một trong những tư liệu thần học quan trọng nhất trong Tân Ước về Chúa Kitô.

Chúa Kitô được xưng tụng là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình, nghĩa là Người biểu tỏ Thiên Chúa nơi chính bản thân Người. Người được gọi là trưởng tử mọi loài thụ tạo vì mọi sự đều được tạo thành qua trung gian của Người. Tác giả thư Côlôssê thêm vào một vài câu để làm nổi bật tầm vóc vũ trụ của công trình tạo dựng : trên trời và dưới đất, hữu hình và vô hình, dũng lực thần thiêng và quyền năng thượng giới. Tất cả mọi sự được tạo dựng không những trong Người và qua Người mà còn cho Người. Tất cả mọi sự đều tuỳ thuộc vào Người, và chính qua quyền năng sáng tạo của Người mà toàn thể tạo thành tiếp tục đi tới. Như thế, không có gì là do may rủi cả nhưng mọi sự đều ở dưới quyền kiểm soát của Chúa Kitô. Chúa Kitô cũng là đầu của thân thể Người, tức là Hội Thánh. Đây là sự phát triển suy tư thần học của thánh Phaolô nhưng đi xa hơn. Hội Thánh được hiểu ở đây không chỉ là Hội Thánh địa phương như thánh Phaolô thường nói trong các thư khác, nhưng là Hội Thánh hoàn vũ.

Phần thứ hai của thánh thi nói về Chúa Kitô như khởi nguyên của ơn cứu độ. Người là Đấng đầu tiên kinh nghiệm sự sống phục sinh, do đó là trưởng tử trong số những người chết sống lại. Lại một lần nữa, thánh thi nhấn mạnh tính ưu việt của Chúa Kitô và tầm vóc vũ trụ của ơn cứu độ mà Người mang đến : Người đứng hàng đầu, Người làm cho mọi sự viên mãn. Sự hoà giải Chúa Kitô đem đến nhờ việc đổ máu trên thập giá cũng mang tầm vóc vũ trụ, vì sự hoà giải này được áp dụng cho mọi sự, trên trời cũng như dưới đất.

Cùng với thánh thi này, thánh Phaolô kêu gọi các tín hữu Côlôssê hãy vui mừng cảm tạ Chúa Cha vì Người cho ta được chung hưởng phần gia nghiệp của dân thánh, giải thoát ta khỏi quyền lực tối tăm (1,12-13). Đồng thời ngài khuyến khích ta sống như Chúa đòi hỏi và làm đẹp lòng Chúa về mọi phương diện (1,10-11).

Là Kitô hữu, bạn có ý thức về vị trí tối thượng của Chúa Kitô? Chúa Kitô chiếm vị trí nào trong cuộc đời bạn? Bạn sống niềm tin của mình ra sao?

II. ĐỜI SỐNG TÔNG ĐỒ ĐÍCH THỰC (1,24 – 2,3)

Theo truyền thống tông đồ, các thừa tác viên trong Hội Thánh là những người được Chúa sai đi, và họ phải rao giảng Lời Chúa cho trọn vẹn (1,25). Lời này là mầu nhiệm được mạc khải cho dân thánh, nhưng trước đây được giữ kín. Mầu nhiệm đó chính là Đức Kitô, “Đấng đang ở giữa anh em và ban cho anh em niềm hi vọng đạt tới vinh quang” (1,27). Chính Chúa Kitô là Đấng mà các thừa tác viên trong Hội Thánh phải rao giảng, với mục đích duy nhất là giúp mọi người nên hoàn thiện trong Chúa Kitô. Những lời này trong thư Côlôssê khiến chúng ta – những người muốn tham dự vào sứ mạng tông đồ – phải luôn luôn tự hỏi : khi làm việc tông đồ, có thật sự là tôi rao giảng Chúa Kitô hay chỉ rao giảng sự khôn ngoan thế gian? Mục đích của những việc tông đồ tôi làm là gì? Là giúp người khác nên hoàn thiện trong Chúa Kitô hay nhằm mục đích nào khác?

Tác giả thư Côlôssê còn nhấn mạnh một điều mà ta dễ quên: “Giờ đây tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan thử thách Đức Kitô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh” (1,24). Như thế người tông đồ tiếp tục kinh nghiệm nơi thân xác mình những khổ đau mà chính Chúa Kitô đã trải qua trước phục sinh, và đón chịu những khổ đau đó để sinh ích lợi cho Hội Thánh. Xác quyết này giúp ta khám phá giá trị tích cực của những đau khổ phải chịu trong đời sống tông đồ, và phải nói thêm rằng chỉ khi ta chấp nhận những đau khổ đó thì công việc tông đồ mới đem lại hoa trái dồi dào.

III. ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH (3,18 – 4,1)

Ngày nay, có thể không ít người trong chúng ta cảm thấy khó chấp nhận những lời khuyên trong thư Côlôssê về đời sống gia đình. Cần phải đặt lá thư này trong bối cảnh lịch sử cụ thể của nó. Bối cảnh đó là xã hội phụ hệ, trong đó người vợ phải phục tùng chồng; do đó tác giả cũng khuyên cộng đoàn làm như thế, và coi đó như bổn phận trong Chúa. Tương tự như thế, tác giả khuyên những người nô lệ phải vâng phục chủ trong mọi sự. Tuy nhiên tác giả không chỉ nói đến bổn phận phục tùng của các bà vợ mà đồng thời nhấn mạnh “người làm chồng hãy yêu thương vợ chứ đừng cay nghiệt với vợ” và “những bậc cha mẹ đừng làm cho con cái bực tức, kẻo chúng ngã lòng.” Một người chồng thật sự yêu thương vợ con, tình yêu thương được thể hiện qua việc chu toàn trách nhiệm làm chồng và làm cha… chắc chắn sẽ không gây đau khổ cho vợ con và cũng đáng được vâng phục.

Thời đại ngày nay nhấn mạnh sự bình đẳng, và giáo huấn của thư Côlôssê cần được đọc trong bối cảnh mới. Sự vâng phục và tình yêu ở đây cần được nhìn từ góc độ hỗ tương: vâng phục lẫn nhau, yêu thương lẫn nhau, tránh gây đau khổ và bực tức cho nhau. Hiểu như thế, giáo huấn của thư Côlôssê về đời sống gia đình vẫn luôn mang tính thời sự.

—–o0o—–

THƯ ÊPHÊSÔ

A. TỔNG QUÁT

Thư Êphêsô được coi là lá thư thánh Phaolô viết trong tù, nhưng các học giả ngày nay đều nhận xét đây không phải là thư của Phaolô cho bằng của một người chịu ảnh hưởng của Phaolô, được viết khoảng năm 80. Mặc dù tác giả chịu ảnh hưởng của Phaolô nhưng chỉ cần đọc thoáng qua cũng có thể thấy những khác biệt về văn phong, từ ngữ, cách diễn tả.

Lá thư bắt đầu bằng lời chào (1,1-2), chúc lành (1,3-14), và tạ ơn (1,15-23). Tiếp đó là một suy tư thần học (2,1 – 3,21) về những lý do dâng lời chúc tụng và tạ ơn: ơn cứu độ trong Chúa Kitô, sự hiệp nhất trong Thân Mình Chúa Kitô, và kế hoạch của Thiên Chúa muốn đem người Do thái và dân ngoại xích lại gần nhau trong Chúa Kitô. Phần cuối (4,1 – 6,9) là lời khuyến dụ về sự hiệp nhất trong Hội Thánh, sống như một nhân loại mới, sự tương phản giữa đời sống cũ và đời sống mới… Phần này kết thúc với lời kêu gọi đứng vững trong cuộc chiến tâm linh (6,10-20) và một ghi chú (6,21-24).

I. NHỮNG SUY TƯ THẦN HỌC VỀ GIÁO HỘI

Thư Eâphêsô có những đóng góp quan trọng vào việc đào sâu mầu nhiệm Giáo Hội. Có thể nói đến năm ý tưởng chính:

– Giáo Hội là nơi biểu lộ sức mạnh và quyền bính của Chúa Kitô (1,20-23): “Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Đức Kitô, và đã đặt Người làm Đầu toàn thể Hội Thánh; mà Hội Thánh là thân thể Đức Kitô, là sự viên mãn của Người”

– Giáo Hội là Thân Mình Chúa Kitô và là Dân Thiên Chúa (2,11-22): sự chết và phục sinh của Chúa Kitô đã phá vỡ bức tường ngăn cách, làm cho người Do thái và dân ngoại trở thành một Dân, thành Thân Mình duy nhất của Chúa Kitô: “Nhờ Người, cả đôi bên chúng ta được liên kết trong một Thánh Thần duy nhất mà đến cùng Chúa Cha.”

– Các tông đồ là nền móng của Giáo Hội (3,1-13): Giáo Hội là phương thế nhờ đó Tin Mừng được rao giảng cho toàn thể vũ trụ. Và Giáo Hội là “tông truyền” theo nghĩa Giáo Hội được xây dựng trên nền móng các tông đồ, và tiếp tục sứ mạng của các tông đồ, tức là sứ mạng rao giảng Tin Mừng.

– Vai trò của các đặc sủng trong Giáo Hội (4,7-16): Chúa Kitô là nguồn mọi đặc sủng, và các đặc sủng trong Giáo Hội nhằm mục đích xây dựng Giáo Hội thành Thân Mình Chúa Kitô.

– Mối tương quan giữa Chúa Kitô và Giáo Hội (5,21-33): đây là mối tương quan hết sức mật thiết đến nỗi tác giả vận dụng tương quan vợ-chồng để diễn tả, đồng thời chính ở đây mà tương quan vợ chồng tín hữu mang một ý nghĩa mới.

II. ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH ((5,21-33)

Liên quan đến đời sống gia đình, tác giả thư Ephêsô cũng có những lời khuyên giống như trong thư Côlôssê (3,18), tức là khuyên nhủ người vợ phải phục tùng chồng. Tuy nhiên tác giả đặt sự phục tùng này trong sự so sánh mối tương quan chồng-vợ với mối tương quan giữa Chúa Kitô và Hội Thánh. Cũng như Chúa Kitô là đầu của Hội Thánh thì người chồng cũng là đầu của vợ; và xét như thân mình của Chúa, Hội Thánh phục tùng Chúa Kitô thì người vợ cũng phục tùng chồng. Cách trình bày này có thể bị hiểu lầm là mang tính gia trưởng, nhất là đối với con người ngày nay. Để hiểu cho đúng ý hướng của tác giả, cần phải đọc những lời khuyên này trong toàn bộ văn mạch chương 5, trong đó tác giả nói đến sự tùng phục lẫn nhau, “Vì lòng kính sợ Đức Kitô, anh em hãy tùng phục lẫn nhau” (5,21), và nhấn mạnh bổn phận người chồng phải chu toàn (5,25-33).

Cũng như trong Col 3,19, người chồng được khuyên nhủ phải yêu thương vợ mình, nhưng khác với thư Côlôssê, tác giả thư Ephêsô trình bày bổn phận yêu thương này bằng cách so sánh với tình yêu Chúa Kitô đối với Hội Thánh. Cũng như Chúa Kitô yêu thương Hội Thánh đến nỗi hiến mình cho Hội Thánh, thì người chồng cũng phải yêu thương vợ hết mình. Nhờ sự tự hiến, Chúa Kitô đã làm cho Hội Thánh nên thánh thiện, thanh tẩy Hội Thánh bằng nước thánh tẩy và Lời hằng sống, để Hội Thánh trở nên Hội Thánh vinh quang, tinh tuyền, không tì ố. Theo đó, cũng như Chúa Kitô yêu thương thân mình Người là Hội Thánh, thì người chồng cũng phải yêu thương vợ như yêu chính thân thể mình. Khi người chồng yêu thương vợ là họ yêu thương chính mình: “Yêu vợ là yêu chính mình. Quả vậy, có ai ghét thân xác mình bao giờ; trái lại người ta nuôi nấng và chăm sóc thân xác mình, cũng như Đức Kitô nuôi nấng và chăm sóc Hội Thánh.”

Tác giả thư Ephêsô trích dẫn St 2,24 để nhấn mạnh sự hợp nhất vợ chồng: “Chính vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt.” Ngay sau đó, tác giả nói thêm, “Mầu nhiệm này thật cao cả. Tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh” (5,32). Đây là một trong những nền tảng giúp ta hiểu hôn nhân là một bí tích, nghĩa là dấu chỉ diễn tả mối tương quan giữa Chúa và Hội Thánh, đồng thời ban ơn cho các đôi hôn phối để họ có thể sống và diễn đạt tình yêu cao cả đó trong cuộc đời mình: “Tình yêu vợ chồng đích thực được kết nhập trong tình yêu Thiên Chúa, được hướng dẫn và thêm phong phú nhờ quyền năng cứu chuộc của Chúa Kitô và hoạt động cứu rỗi của Giáo Hội, để hai vợ chồng được dẫn dắt cách hữu hiệu đến cùng Thiên Chúa, cũng như được nâng đỡ và kiện cường trong nhiệm vụ cao cả là làm cha mẹ” (GS 48).

ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm
Nguồn: WGPSG

giao-dan-hoc-hoi-kinh-thanh-lm-an-ton-nguyen-cao-sieu-s-j
Giáo dân học hỏi Kinh Thánh - Lm. An-tôn Nguyễn cao Siêu, S.J.

Giáo dân học hỏi Kinh Thánh không phải là một điều mới mẻ. Cách đây hơn nửa thế kỷ, Công đồng Vaticanô II đã tuyên bố trong Hiến Chế về Mặc Khải, Dei Verbum: “Thánh Công Đồng ân cần và đặc biệt khuyến khích mọi Kitô hữu, nhất là các tu sĩ, hãy đạt đến ‘sự hiểu biết tuyệt vời về Chúa Giêsu Kitô’ (Pl 3,8) nhờ năng đọc Sách Thánh. ‘Thật vậy, không biết Thánh Kinh là không biết Chúa Kitô’.

gioi-tre-va-viec-lang-nghe-loi-chua-lm-gioan-le-quang-viet
Giới trẻ và việc lắng nghe Lời Chúa - LM. Gioan Lê Quang Việt.

“Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” (Mc 10,17-21). Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đề cập đến Mt 19,16 trong thông điệp Veritatis Splendor và nhận định rằng, câu hỏi mà người trẻ đặt ra cho Đức Giêsu là một câu hỏi không thể tránh được nơi thâm sâu của mỗi đời người. Con người khát khao hạnh phúc và không ngừng tìm kiếm câu trả lời cho những vấn đề căn bản như: “ Con người là gì? Đâu là ý nghĩa của đau khổ, sự dữ và cái chết? Sao chúng còn tiếp tục tồn tại mặc dù đã có bao nhiêu tiến bộ?” (Gaudium et Spes 10).

loi-chua-trong-viec-day-giao-ly-lm-phero-nguyen-van-hien
Lời Chúa trong việc Dạy Giáo lý - Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hiền

Khi nói “Lời Chúa trong việc Dạy Giáo lý”, chúng tôi muốn đề cập tới vai trò của Lời Chúa trong Thánh Kinh được thể hiện như thế nào trong việc dạy giáo lý và trình bày vấn đề theo hướng suy tư và chia sẻ mục vụ. Người trình bày chỉ đúc kết lại suy nghĩ và nỗ lực của một nhóm đã và đang cộng tác với nhau hơn mười năm qua cho một công trình chung; đó là bộ giáo lý Hiệp Thông được biên soạn theo hướng Giáo Lý Thánh Kinh (Catéchèse Biblique).

loi-chua-ben-vung-den-muon-doi-gm-giuse-vo-duc-minh
Lời Chúa bền vững đến muôn đời - Gm. Giuse Võ Đức Minh

Tông Huấn “LỜI CHÚA” ( VERBUM DOMINI ) của Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI được chính thức công bố vào ngày 11 tháng 11 năm 2010. Mở đầu Tông Huấn, Đức Thánh Cha muốn làm vang vọng lại cho cả Hội thánh lời tuyên xưng đức tin cùng với tâm tình và kinh nghiệm sống từ hai ngàn năm về trước của Thánh Phêrô, vị ngư phủ Galilê, người đã được Đức Giêsu Nadarét tuyển chọn và đặt làm nền tảng Hội thánh: “Lời Chúa bền vững đến muôn đời. Đó chính là Lời Tin Mừng đã được loan báo cho anh em” (1 Pr 1, 25).

gia-dinh-va-cong-doan-nho-voi-viec-cu-hanh-loi-chua-gm-lu-y-nguyen-anh-tuan
Gia đình và cộng đoàn nhỏ với việc cử hành Lời Chúa - GM. Lu-y Nguyễn Anh Tuấn

Con người ở một mình không tốt, vì một mình con người không thể hoàn tất mục đích của mình trong tạo thành. Thiên Chúa không đơn độc, bởi thế con người cũng không thể sống một mình. Con người cá thể đơn độc không thể mang hình ảnh giống như Thiên Chúa được.Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, trong lần viếng thăm đầu tiên các nước châu Mỹ, đã nói: “Thiên Chúa trong mầu nhiệm thẳm sâu nhất của Ngài không đơn độc nhưng là một gia đình vì lẽ Thiên Chúa trong Ngài có Cha, có Con và có Yếu tính của gia đình, tức là Tình Yêu”.

cac-hoat-dong-muc-vu-kinh-thanh-trong-giao-phan-dgm-giuse-vu-van-thien
Các hoạt động Mục vụ Kinh Thánh trong Giáo phận - ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên

“Kinh Thánh không dạy chúng ta làm thế nào để nói về Thiên Chúa, nhưng dạy những gì Chúa nói với chúng ta; Kinh Thánh cũng không chỉ dẫn cho chúng ta cách tìm thấy con đường dẫn tới gặp Chúa, nhưng là cách thế Chúa đã tìm thấy con đường tới gặp chúng ta” (Karl Barth). Lời nhận định trên đây của Karl Barth chứng minh Thiên Chúa chủ động ngỏ lời với chúng ta. Ngài cũng “đi bước trước” và có sáng kiến đến gặp gỡ con người. Mạc khải là đặc tính chung của ba tôn giáo lớn: Đạo Do Thái, Đạo Hồi và Đạo Kitô.

Quý độc giả có thể gửi thư cho người quản trị website, đóng góp ý kiến, đưa ra những yêu cầu, thắc mắc...

Quý độc giả có thể email trực tiếp tới kinhthanhvn@gmail.com.



Xin cảm ơn!.

Hỗ trợ & Cung Cấp Website Wsup3

Copyright © 2016 KINHTHANHVN.NET.