kinhthanh

TRANG CHỦ li-category HỌC KINH THÁNH li-category Học và Sống Năm Kinh Thánh li-category Học hỏi Thánh Kinh 100 tuần – Tuần 82 và 83

Tuần 82: (Tuần 7 phần Tân Ước) Thư thứ nhất Côrintô (chương 13 – 16)

SỰ PHỤC SINH (15,1-58)

1. Sự phục sinh của Chúa Kitô (15,1-11)

Một lần nữa, thánh Phaolô nhấn mạnh truyền thống đức tin Kitô giáo, “Tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận” (câu 3). Truyền thống đó được Phaolô trình bày trong 15,3b-5, với bốn yếu tố chính : Chúa Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, Người đã được mai táng (nhấn mạnh Chúa Giêsu đã chết thực sự), Người đã sống lại, Người đã hiện ra (chứ không phải là ảo giác của con người, vì thế Phaolô liệt kê một số lần hiện ra của Đấng Phục Sinh).

2. Sự phục sinh kẻ chết (15,12-34)

Trong 15,12-19 thánh Phaolô phê phán những người phủ nhận sự phục sinh kẻ chết, và như thế cũng chối bỏ sự phục sinh của Chúa Kitô. Ngài nhấn mạnh rằng sự phục sinh của các tín hữu đặt nền tảng trên sự phục sinh của Chúa Kitô, và nếu Chúa Kitô không sống lại thì quả thật, các tín hữu là những người đáng thương nhất (câu 14-19).

Tiếp theo, trong 15,20-28 thánh Phaolô trình bày xác tín của ngài. Chúa Kitô đã sống lại rồi, và sự sống lại của Người mở đường cho tất cả những ai đã qua đời. Nếu tội lỗi của Adam đã đem sự chết vào thế giới, thì sự phục sinh của Chúa Kitô đem sự sống đến cho nhân loại.

Để tiếp tục phản bác những người phủ nhận sự sống lại, thánh Phaolô dựa vào một tập quán của dân Côrintô lúc đó mà lý luận (15,29-34). Lúc đó người ta có tập quán chịu phép Rửa thay cho kẻ chết. Thánh Phaolô dựa vào tập quán này để chứng minh rằng họ đã tin có sự sống lại nên mới làm như thế. Như vậy, Phaolô chỉ dựa vào tập quán có sẵn mà biện luận chứ không phải ngài truyền dạy chúng ta phải rao giảng Tin Mừng và làm phép Rửa cho các âm hồn như một vài người lầm tưởng.

3. Cách thức sống lại (15,35-58)

Những người theo phái hoài nghi tiếp tục đưa ra vấn nạn: nếu có phục sinh thì những người đã chết lấy thân xác nào mà sống lại? Để trả lời vấn nạn này, thánh Phaolô mượn hình ảnh đơn sơ trong đời sống nông nghiệp để nhấn mạnh rằng “Ngươi gieo cái gì, cái ấy phải chết mới được sống” (15,36); từ đó, ngài đưa ra những suy tư sâu sắc về sự phục sinh. Thân xác được chôn táng là thân xác bị hư hoại, còn thân xác phục sinh là thân xác bất hoại, thân xác thiêng liêng, thân thể có thần khí.

Thực ra, mầu nhiệm phục sinh được xây nền trên đức tin hơn là những dữ kiện thường nghiệm. Vì thế thánh Phaolô nói, “Tôi nói cho anh em biết mầu nhiệm này: không phải tất cả chúng ta sẽ chết, nhưng tất cả chúng ta sẽ được biến đổi… Vì tiếng kèn sẽ vang lên, và những kẻ chết sẽ trỗi dậy mà không còn hư nát; còn chúng ta, chúng ta sẽ được biến đổi” (15,50.52).


Tuần 83: Thư thứ hai Côrintô (chương 1 – 7)

I. CHÚC TỤNG CHÚA NGAY TRONG ĐAU KHỔ (1,3-11)

Theo thói quen ngày xưa, người viết thư thường bắt đầu bằng việc dâng lời tạ ơn vì Chúa đã ban sức khoẻ cho mình. Thế nhưng thánh Phaolô lại nhắc đến những đau khổ phải chịu, “chúng tôi đã phải chịu đựng quá mức, quá sức chúng tôi, đến nỗi chúng tôi không còn hi vọng sống nổi” (câu 8-9). Tuy nhiên chính những đau khổ này lại thúc đẩy thánh nhân lên tiếng chúc tụng Chúa là Đấng “hằng sẵn sàng nâng đỡ, ủi an” (câu 3). Tâm tình này của thánh Phaolô soi chiếu một luồng sáng mới cho đời sống đức tin của ta.

Người môn đệ Chúa Giêsu xác tín rằng những đau khổ phải chịu chính là cơ hội thông hiệp vào cuộc khổ nạn của Thầy chí thánh, và nhờ thông hiệp với Người trong đau khổ, ta cũng được thông hiệp với Người trong vinh quang : “Cũng như chúng ta chia sẻ muôn vàn nỗi khổ đau của Đức Kitô, thì nhờ Người, chúng ta cũng được chứa chan niềm an ủi” (câu 5). Đồng thời, khi được thông hiệp vào cuộc khổ nạn của Chúa, những đau khổ ta phải chịu sẽ mang giá trị cứu độ : “Chúng tôi có phải chịu gian nan thì đó là để anh em được an ủi và được cứu độ.” (câu 6).

Niềm xác tín vào sự an ủi đỡ nâng của Chúa sẽ giúp ta vững bước trên đường phục vụ. Đồng thời xác tín đó cũng thúc đẩy ta trở thành người mang sự nâng đỡ và an ủi đến cho anh chị em mình : “Thiên Chúa luôn nâng đỡ ủi an chúng ta trong mọi cơn gian nan thử thách, để sau khi được Thiên Chúa nâng đỡ, chính chúng ta cũng biết an ủi những ai lâm cảnh gian nan khốn khó” (câu 4); “Chúng tôi có được an ủi thì cũng là để anh em được an ủi, khiến anh em có sức kiên trì chịu đựng cùng những nỗi thống khổ mà chính chúng tôi phải chịu” (câu 6).

II. BÍ QUYẾT CỦA NGƯỜI TÔNG ĐỒ (4,7 – 5,10)

1. Mang trong mình cuộc thương khó của Chúa Kitô

“Nhưng kho tàng ấy, chúng tôi lại chứa đựng trong những bình sành, để chứng tỏ quyền năng phi thường phát xuất từ Thiên Chúa chứ không phải từ chúng tôi” (câu 7). Sau khi chứng minh sự ưu việt của Giao ước mới so với Giao ước cũ (3,1-18) và tự hào rằng mình là người phục vụ Giao ước mới, thánh Phaolô đã khẳng định như thế. Khẳng định này toát lên tâm tình khiêm tốn, cậy trông.

Tất cả được khơi nguồn từ mầu nhiệm Chúa Kitô chịu đóng đinh thập giá. Chúa Giêsu là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình, và Người đã mạc khải quyền năng cùng sự khôn ngoan của Thiên Chúa không phải bằng thứ quyền lực thế gian mong đợi, nhưng là qua thập giá. Thập giá bị người Do thái và dân ngoại coi là điên rồ và ngu xuẩn, nhưng lại là sức mạnh cứu độ cho những kẻ tin (1Co 1,18).

Khởi đi từ mầu nhiệm này, thánh Phaolô chia sẻ xác tín của ngài về đời tông đồ. Có thể đã có những lời phê bình chỉ trích nhắm vào ngài (vd. 2Co 10,10 : Trong thư thì nghiêm khắc và hùng hổ, nhưng khi có mặt thì nhu nhược, nói chẳng ra hồn). Thánh Phaolô không bực bội vì những lời chỉ trích đó, trái lại ngài vận dụng lời chỉ trích đó để chứng minh quyền năng Thiên Chúa hoạt động nơi những yếu đuối của con người tự nhiên. Đồng thời ngài kể ra những đau khổ phải chịu trong đời tông đồ (câu 8-9), không phải để than trách nhưng để làm nổi bật bí quyết của người tông đồ : “Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Chúa Giêsu, để sự sống của Chúa Giêsu được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi” (câu 10), và “Dù con người bên ngoài của chúng tôi có tiêu tan đi, thì con người bên trong của chúng tôi ngày càng đổi mới” (câu 16).

2. Mang trong mình niềm hi vọng bất diệt

“Thật vậy, một chút gian truân tạm thời trong hiện tại sẽ mang lại cho chúng ta cả một khối vinh quang vô tận, tuyệt vời” (4,17). Sở dĩ thánh Phaolô nói được như thế là vì ngài xác tín vào sự sống vĩnh cửu : “Quả thật, chúng ta biết rằng : nếu ngôi nhà của chúng ta ở dưới đất, là chiếc lều này, bị phá huỷ, thì chúng ta có một nơi ở do Thiên Chúa dựng lên, một ngôi nhà vĩnh cửu trên trời, không do tay người thế làm ra (5,1). Xác tín đó mạnh mẽ đến nỗi Phaolô kêu lên rằng, “Ở lại trong thân xác này là lưu lạc xa Chúa… Điều chúng tôi thích hơn là lìa bỏ thân xác để được ở bên Chúa” (5,6-8).

Niềm hi vọng vào đời sống vĩnh cửu ban tặng cho người môn đệ Chúa một tầm nhìn mới và một lối sống mới. Đó là không bám víu vào những thực tại sẽ qua đi nhưng biết gắn bó với những thực tại vĩnh hằng : “Vì thế, chúng ta mới không chú tâm đến những sự vật hữu hình nhưng đến những thực tại vô hình. Quả vậy, những sự vật hữu hình thì chỉ tạm thời, còn những thực tại vô hình mới tồn tại vĩnh viễn” (4,18). Đồng thời, niềm hi vọng đó thúc đẩy ta sống cuộc sống hiện tại với tinh thần trách nhiệm, vì “tất cả chúng ta đều phải được đưa ra ánh sáng, trước toà Đức Kitô, để mỗi người lãnh nhận những gì tương xứng với các việc tốt hay xấu đã làm, khi còn ở trong thân xác” (5,10). Làm sao để trong mọi hoàn cảnh và mọi công việc, mục đích chính của ta phải là làm đẹp lòng Chúa : “Dù còn ở trong thân xác hoặc đã lìa bỏ thân xác, chúng tôi chỉ có một tham vọng là làm đẹp lòng Người” (5,9). Đó là cách sống tốt đẹp nhất và sẽ dẫn ta đến kết thúc tốt đẹp nhất.

ĐGM. Phêrô Nguyễn Văn Khảm
Nguồn: WGPSG

 

 

giao-dan-hoc-hoi-kinh-thanh-lm-an-ton-nguyen-cao-sieu-s-j
Giáo dân học hỏi Kinh Thánh - Lm. An-tôn Nguyễn cao Siêu, S.J.

Giáo dân học hỏi Kinh Thánh không phải là một điều mới mẻ. Cách đây hơn nửa thế kỷ, Công đồng Vaticanô II đã tuyên bố trong Hiến Chế về Mặc Khải, Dei Verbum: “Thánh Công Đồng ân cần và đặc biệt khuyến khích mọi Kitô hữu, nhất là các tu sĩ, hãy đạt đến ‘sự hiểu biết tuyệt vời về Chúa Giêsu Kitô’ (Pl 3,8) nhờ năng đọc Sách Thánh. ‘Thật vậy, không biết Thánh Kinh là không biết Chúa Kitô’.

gioi-tre-va-viec-lang-nghe-loi-chua-lm-gioan-le-quang-viet
Giới trẻ và việc lắng nghe Lời Chúa - LM. Gioan Lê Quang Việt.

“Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” (Mc 10,17-21). Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đề cập đến Mt 19,16 trong thông điệp Veritatis Splendor và nhận định rằng, câu hỏi mà người trẻ đặt ra cho Đức Giêsu là một câu hỏi không thể tránh được nơi thâm sâu của mỗi đời người. Con người khát khao hạnh phúc và không ngừng tìm kiếm câu trả lời cho những vấn đề căn bản như: “ Con người là gì? Đâu là ý nghĩa của đau khổ, sự dữ và cái chết? Sao chúng còn tiếp tục tồn tại mặc dù đã có bao nhiêu tiến bộ?” (Gaudium et Spes 10).

loi-chua-trong-viec-day-giao-ly-lm-phero-nguyen-van-hien
Lời Chúa trong việc Dạy Giáo lý - Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hiền

Khi nói “Lời Chúa trong việc Dạy Giáo lý”, chúng tôi muốn đề cập tới vai trò của Lời Chúa trong Thánh Kinh được thể hiện như thế nào trong việc dạy giáo lý và trình bày vấn đề theo hướng suy tư và chia sẻ mục vụ. Người trình bày chỉ đúc kết lại suy nghĩ và nỗ lực của một nhóm đã và đang cộng tác với nhau hơn mười năm qua cho một công trình chung; đó là bộ giáo lý Hiệp Thông được biên soạn theo hướng Giáo Lý Thánh Kinh (Catéchèse Biblique).

loi-chua-ben-vung-den-muon-doi-gm-giuse-vo-duc-minh
Lời Chúa bền vững đến muôn đời - Gm. Giuse Võ Đức Minh

Tông Huấn “LỜI CHÚA” ( VERBUM DOMINI ) của Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI được chính thức công bố vào ngày 11 tháng 11 năm 2010. Mở đầu Tông Huấn, Đức Thánh Cha muốn làm vang vọng lại cho cả Hội thánh lời tuyên xưng đức tin cùng với tâm tình và kinh nghiệm sống từ hai ngàn năm về trước của Thánh Phêrô, vị ngư phủ Galilê, người đã được Đức Giêsu Nadarét tuyển chọn và đặt làm nền tảng Hội thánh: “Lời Chúa bền vững đến muôn đời. Đó chính là Lời Tin Mừng đã được loan báo cho anh em” (1 Pr 1, 25).

gia-dinh-va-cong-doan-nho-voi-viec-cu-hanh-loi-chua-gm-lu-y-nguyen-anh-tuan
Gia đình và cộng đoàn nhỏ với việc cử hành Lời Chúa - GM. Lu-y Nguyễn Anh Tuấn

Con người ở một mình không tốt, vì một mình con người không thể hoàn tất mục đích của mình trong tạo thành. Thiên Chúa không đơn độc, bởi thế con người cũng không thể sống một mình. Con người cá thể đơn độc không thể mang hình ảnh giống như Thiên Chúa được.Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, trong lần viếng thăm đầu tiên các nước châu Mỹ, đã nói: “Thiên Chúa trong mầu nhiệm thẳm sâu nhất của Ngài không đơn độc nhưng là một gia đình vì lẽ Thiên Chúa trong Ngài có Cha, có Con và có Yếu tính của gia đình, tức là Tình Yêu”.

cac-hoat-dong-muc-vu-kinh-thanh-trong-giao-phan-dgm-giuse-vu-van-thien
Các hoạt động Mục vụ Kinh Thánh trong Giáo phận - ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên

“Kinh Thánh không dạy chúng ta làm thế nào để nói về Thiên Chúa, nhưng dạy những gì Chúa nói với chúng ta; Kinh Thánh cũng không chỉ dẫn cho chúng ta cách tìm thấy con đường dẫn tới gặp Chúa, nhưng là cách thế Chúa đã tìm thấy con đường tới gặp chúng ta” (Karl Barth). Lời nhận định trên đây của Karl Barth chứng minh Thiên Chúa chủ động ngỏ lời với chúng ta. Ngài cũng “đi bước trước” và có sáng kiến đến gặp gỡ con người. Mạc khải là đặc tính chung của ba tôn giáo lớn: Đạo Do Thái, Đạo Hồi và Đạo Kitô.

Quý độc giả có thể gửi thư cho người quản trị website, đóng góp ý kiến, đưa ra những yêu cầu, thắc mắc...

Quý độc giả có thể email trực tiếp tới kinhthanhvn@gmail.com.



Xin cảm ơn!.

Hỗ trợ & Cung Cấp Website Wsup3

Copyright © 2016 KINHTHANHVN.NET.