kinhthanh

TRANG CHỦ li-category HỌC KINH THÁNH li-category ''Chia rẽ và hiệp thông'' – ''sự thật và dối trá'' trong thư thứ nhất Gio-an


 


1. Dẫn nhập 

Thư thứ nhất Gio-an có tương quan với Tin Mừng Gio-an, nhưng Tin Mừng Gio-an và ba thư Gio-an được viết trong những bối cảnh khác nhau. Thư thứ nhất Gio-an mô tả tình trạng của cộng đoàn đang bị chia rẽ, vì tác giả viết ở 1Ga 4,2-3: “2Trong điều này, anh em nhận biết thần khí Thiên Chúa: Mọi thần khí nào tuyên xưng Đức Giê-su Ki-tô, Đấng đã đến trong thân xác, là bởi Thiên Chúa; 3Mọi thần khí phân chia Đức Giê-su, thì không bởi Thiên Chúa; đó là thần khí của phản Ki-tô. Anh em đã nghe nói là nó đang tới, và hiện nay nó ở trong thế gian rồi.” (Các trích dẫn bản văn ba thư Gio-an lấy trong Bản văn Gio-an, TIM MỪNG và BA THƯ, Hy Lạp – Việt).

Có thể trong bối cảnh chia rẽ và nguy cơ sai lạc về đạo lý trong cộng đoàn, mà tác giả thư thứ nhất Gio-an mời gọi cộng đoàn hiệp thông ngay trong lời tựa (1Ga 1,1-4) của lá thư: “Điều chúng tôi thấy và chúng tôi nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em, để chính anh em cũng có sự hiệp thông với chúng tôi. Sự hiệp thông của chúng tôi với Cha và với Con của Người, Đức Giê-su Ki-tô” (1Ga 1,3).

 

Bài viết này sẽ tìm hiểu tình trạng của cộng đoàn và mục đích của lá thư qua đề tài: “Chia rẽ và hiệp thông” – “sự thật và dối trá” trong thư thứ nhất Gio-an. Nội dung bài viết gồm các mục: (1) Dẫn nhập, (2) Quan sát từ ngữ, (3) Phân rẽ giữa cộng đoàn, (4) Sự thật và dối trá, (5) “Thần khí sự thật” và “thần khí sai lầm”, (6) Mời gọi “hiệp thông” và “làm sự thật”, (7) Kết luận.

 

2. Quan sát từ ngữ

 

Phần sau sẽ quan sát các từ ngữ liên quan đến đề tài của bài viết trong cả ba thư Gio-an. Trong đó, thư 1Ga dài nhất, gồm 5 chương. Hai thư còn lại rất ngắn: Thư 2Ga chỉ có 13 câu và thư 3Ga chỉ có 15 câu. Các từ ngữ “tích cực” được trình bày trước, kế đến là các từ “tiêu cực”. Trong đó, danh từ “thần khí” (pneuma) vừa tích cực: “thần khí sự thật” vừa tiêu cực: “thần khí sai lầm”.

 

- “Hiệp thông” (koinônia), danh từ này xuất hiện 4 lần: 1Ga 1,3a.3b.6.7. Cụ thể là hai lần trong lời tựa (1Ga 1,1-4): 1Ga 1,3a.3b; và 2 lần trong phần mô tả cách sống của người có sự hiệp thông (1Ga 1,5–2,28): 1Ga 1,6.7.

 

- “Sự thật”, các thư Gio-an dùng bốn từ liên quan đến đề tài này:

a) Quan trọng nhất là danh từ “sự thật” (alêtheia), xuất hiện 20 lần trong ba thư Gio-an. Cụ thể  là 9 lần trong 1Ga (1Ga 1,6.8; 2,4.21a.21b; 3,18.19; 4,6; 5,6); 5 lần trong 2Ga (2Ga 1a.1b.2.3.4) và 6 lần trong 3Ga (3Ga 1.3a.3b.4.8.12).

b) Tính từ “thật”, “đích thực” (alêthinos) xuất hiện 4 lần trong 1Ga: 1Ga 2,8; 5,20a.20b.20c.

c) Tính từ “thật”, “đúng” (alêthês) xuất hiện 3 lần: 1Ga 2,8.27; 3Ga 12.

d) Trạng từ “một cách đích thực” (alêthôs) xuất hiện 1 lần ở  1Ga 2,5.

 

- “Thần khí” (pneuma), danh từ này xuất hiện 12 lần trong 1Ga (1Ga 3,24; 4,1a.1b.2a.2b.3.6a.6b.13; 5,6a.6b.8). “Thần khí” (pneuma) là đề tài quan trọng và khá phức tạp trong các thư Gio-an. Đề tài này có thể phân tích trong một bài khác.

 

- “Sai lầm” (planê), danh từ này xuất hiện 1 lần: 1Ga 4,6.

 

- “Dối trá” (pseudos), danh từ này xuất hiện 2 lần: 1Ga 2,21.27.

 

- “Ngôn sứ giả” (pseudoprophêtês) xuất hiện 1 lần: 1Ga 4,1.

 

- “Phản Ki-tô” (antikhistos) xuất hiện 5 lần. Cụ thể là 4 lần trong 1Ga (1Ga 2,18a.18b.22; 4,3); 1 lần trong 2Ga (2Ga 7).

 

Danh từ “chia rẽ” (skhisma) không xuất hiện trong ba thư Gio-an, nhưng phân tích sau đây cho thấy có sự phân rẽ trầm trọng ngay giữa cộng đoàn thư thứ nhất Gio-an.

 

3. Phân rẽ giữa cộng đoàn

 

Tác giả thư thứ nhất Gio-an cho biết tình trạng phân rẽ trong cộng đoàn như sau: “Mọi thần khí nào phân chia Đức Giê-su thì không bởi Thiên Chúa, đó là thần khí của tên phản Ki-tô mà anh em đã nghe là nó đang tới và hiện nay nó ở trong thế gian rồi” (1Ga 4,3). Sự phân rẽ được diễn tả qua tiêu chuẩn: “Phân chia Đức Giê-su thì không bởi Thiên Chúa” đây là lập trường sai lạc của những kẻ “phản Ki-tô”.

 

Động từ “phân chia” (luô) trong cụm từ “phân chia Đức Giê-su” (1Ga 4,3) có dị bản là “tuyên xưng” (homologeô). Dị bản động từ “luô”, có nghĩa “huỷ bỏ”, “phân chia” (séparer, diviser), xuất hiện trong các thủ bản (manuscrits): Vg; Ir1739mg; Cl1739mg; Or1739mg, Lcf. [xem dị bản “luô” trong Nestle-Aland, Novum Testamentum Graece, (27e éd. rév.), Stuttgart, Deutsche Bibelgesellschaft, 1996]. Dị bản động từ “homologeô”, có nghĩa “tuyên xưng” (confesser), xuất hiện trong các thủ bản: א, A, B, Y, 33, 81,322... [xem dị bản homologeô trong B. ALAND; K. ALAND,  (et al.), (ed.), The Greek New Testament, (GNT), (Fourth Revised Edition), Stuttgart, Deutsche Bibelgesellschaft, 2001]. Các thủ bản trích dẫn trên cho thấy rằng dị bản động từ “phân chia” (luô) chỉ xuất hiện trong bản Vulgata và một số bản văn các Giáo phụ. Tuy vậy, xét trong mạch văn thì dị bản “phân chia” (luô) phù hợp hơn dị bản “tuyên xưng” (homologeô).  

 

Thực vậy, mạch văn 1Ga 4,1-6 cho phép hiểu những kẻ phản Ki-tô muốn phân chia giữa “Đức Giê-su” và “Đấng Ki-tô”. Tác giả 1Ga khẳng định: “Thần khí nào tuyên xưng Đức Giê-su Ki-tô, Đấng đã đến trong thân xác, là bởi Thiên Chúa” (1Ga 4,2). Kiểu nói: “Đến trong thân xác” vừa gợi đến mầu nhiệm nhập thể, vừa ám chỉ sứ vụ công khai và sự chết của Đức Giê-su trong thân phận con người. Như thế, theo tác giả thư 1Ga, nhân tính của Đức Giê-su không thể tách rời khỏi thiên tính của Người. Bản dịch Bible de Jérusalem (BJ) chọn dị bản homologeô(confesser, tuyên xưng). Bản dịch Traduction Œcuménique de la Bible (TOB) chọn dị bản luô(diviser, phân chia). Các tác giả R. E. Brown và J. Painter cũng chọn dị bản luô, [xem R. E. BROWN, The Epistles of John, (AB 30), New York (NY), Doubleday, 1982, p. 485-511; J. PAINTER, 1, 2, and 3 John, (SPS 18), Collegeville (MN), The Liturgical Press, 2002, p. 253-264]. Chúng tôi chọn dị bản “luô” (phân chia) trong Bản văn Gio-an, TIM MỪNG và BA THƯ, Hy Lạp – Việt. Xem phân tích đề tài này trong Khủng hoảng và giải pháp cho các môn đệ trong Tin Mừng thứ tư, tr. 171-174.

 

Những cách hiểu khác nhau về vai trò và sứ vụ của Đức Giê-su dẫn đến một số thành viên của cộng đoàn phân rẽ làm thành một nhóm đối lập với cộng đoàn của tác giả thư thứ nhất Gio-an. Tác giả thư 1Ga cho biết những kẻ đối lập là phản Ki-tô, họ đã từng là thành viên của cộng đoàn, nhưng đã tách ra khỏi cộng đoàn và không còn thuộc về cộng đoàn của tác giả thư 1Ga nữa. Tác giả viết cho cộng đoàn như sau: “18Hỡi các con thơ bé, đây là giờ cuối cùng, như anh em đã nghe là tên phản Ki-tô sẽ đến, và giờ đây nhiều tên phản Ki-tô đã xuất hiện. Do đó, chúng ta biết rằng đây là giờ cuối cùng. 19Chúng xuất thân từ nơi chúng ta, nhưng chúng không thuộc về chúng ta; vì nếu chúng thuộc về chúng ta, chúng đã ở lại với chúng ta. Nhưng để tỏ hiện ra là không phải tất cả thuộc về chúng ta” (1Ga 2,18-19).

 

Những lời trên của tác giả thư 1Ga cho thấy cộng đoàn đang bị chia rẽ trầm trọng. Có một nhóm đã tách rời khỏi cộng đoàn. Họ đã hiểu sai căn tính của Đức Giê-su. Họ đã không tuyên xưng “Đức Giê-su Ki-tô, Đấng đã đến trong thân xác” (1Ga 4,2). Họ đã phân chia Đức Giê-su (1Ga 4,3), họ tách rời nhân tính và thiên tính của Người. Họ trở thành những kẻ mà tác giả thư 1Ga gọi là “phản Ki-tô”. Đây là khủng hoảng mang chiều kích thần học và Ki-tô học. Những kẻ phản Ki-tô đã hiểu sai đạo lý chính thống của cộng đoàn, nên họ không có sự thật nơi mình (1Ga 2,4). 

 

4. Sự thật và dối trá

 

Sự phân rẽ giữa cộng đoàn tạo nên sự đối lập giữa “sự thật” (alêtheia) và “dối trá” (pseudos). Tác giả thư 1Ga viết cho  cộng đoàn như sau: “Tôi đã không viết cho anh em là anh em không biết sự thật, nhưng vì anh em biết sự thật và vì mọi sự dối trá thì không thuộc về sự thật” (1Ga 2,21). Câu 1Ga 2,21 thuộc đoạn văn 1Ga 2,18-28, đây là đoạn văn mô tả lập trường của các phản Ki-tô. Tác giả thư 1Ga cho biết lập trường của hai bên:

a) Về phía những kẻ đối lập với cộng đoàn, tác giả viết: “Ai là người dối trá, nếu không phải là người chối bỏ và cho rằng Đức Giê-su không phải là Đấng Ki-tô? Người ấy là tên phản Ki-tô, là kẻ chối bỏ Cha và Con” (1Ga 2,22).

b) Về phía cộng đoàn của tác giả, tác giả viết: “Phần anh em, điều anh em đã nghe từ khởi đầu ở lại trong anh em. Nếu điều anh em đã nghe từ khởi đầu ở lại trong anh em, thì chính anh em sẽ ở lại trong Con và trong Cha” (1Ga 2,24).

 

Tác giả kết luận: “Tôi viết cho anh em những điều này về những kẻ làm cho anh em lạc đường” (1Ga 2,26). Như thế, cộng đoàn đang bị những kẻ phản Ki-tô lôi kéo, dẫn đến  nguy cơ đi vào con đường sai lạc. Tác giả viết thư dặn dò để cộng đoàn không lạc lối bởi “những kẻ làm cho anh em lạc đường” (1Ga 2,26). Định nghĩa về “người dối trá” ở 1Ga 2,22 như trên đã đặt “những kẻ phản Ki-tô” về phía “dối trá”. Đối lập giữa “những người thuộc về sự thật” và “những người thuộc về sự dối trá” (phản Ki-tô) trong thư thứ nhất Gio-an cho thấy những tranh luận và chia rẽ trong cộng đoàn liên quan đến những cách hiểu khác nhau về vai trò và sứ vụ của Đức Giê-su. Tác giả trình bày đạo lý chính thống và giải thích cho cộng đoàn biết đâu là niềm tin đích thực để không bị các ngôn sứ giả lôi cuốn vào con đường sai lạc. Xem phân tích đề tài này trong Đấng Pa-rác-lê – Thần Khí sự thật – trong Tin Mừng thứ tư, tr. 103-105.

 

5. “Thần khí sự thật” và “thần khí sai lầm”

 

Làm thế nào để phân biệt “sự thật” và “dối trá”? Tác giả thư 1Ga mời gọi cộng đoàn “thẩm định các thần khí” để biết đâu là “thần khí sự thật”, đâu là “thần khí sai lầm”. Tiêu chuẩn để thẩm định các thần khí được trình bày ở 1Ga 4,1-3: “1Anh em thân mến, anh em đừng tin vào mọi thần khí nhưng anh em hãy thẩm định các thần khí xem thần khí nào bởi Thiên Chúa, vì nhiều ngôn sứ giả đã đến trong thế gian. 2Trong điều này, anh em biết thần khí của Thiên Chúa: Mọi thần khí tuyên xưng Đức Giê-su Ki-tô, Đấng đã đến trong thân xác là bởi Thiên Chúa. 3Mọi thần khí nào phân chia Đức Giê-su thì không bởi Thiên Chúa, đó là thần khí của tên phản Ki-tô mà anh em đã nghe là nó đang tới và hiện nay nó ở trong thế gian rồi.”

 

Tác giả thư 1Ga khẳng định rằng cộng đoàn của tác giả là “những người thuộc về Thiên Chúa”. Tác giả viết ở 1Ga 4,6: “Còn chúng ta, chúng ta thuộc về Thiên Chúa. Ai biết Thiên Chúa thì nghe chúng ta. Ai không thuộc về Thiên Chúa thì không nghe chúng ta. Từ điều đó, chúng ta nhận biết thần khí sự thật và thần khí sai lầm.” Như thế, tiêu chuẩn để nhận biết “thần khí sự thật” và “thần khí sai lầm” là “thuộc về Thiên Chúa” hay “không thuộc về Thiên Chúa”. Điều này bộc lộ ra bên ngoài bằng khả năng “nghe”. Theo tác giả thư 1Ga: “Ai nghe chúng ta thì biết Thiên Chúa” và “ai không nghe chúng ta thì không thuộc về Thiên Chúa” (1Ga 4,6).

 

Các trích dẫn trên thuộc đoạn văn 1Ga 4,1-6. Đoạn văn này bắt đầu với lối xưng hô: “Anh em thân mến…” (1Ga 4,1a), sau đó tác giả mời gọi cộng đoàn thẩm định các thần khí dựa trên hai tiêu chuẩn: (1) “Tuyên xưng Đức Giê-su Ki-tô, Đấng đã đến trong thân xác là bởi Thiên Chúa” (1Ga 4,2); (2) “Thuộc về Thiên Chúa” (1Ga 4,6). Đoạn văn 1Ga 4,1-6 trình bày đối lập giữa “Thần Khí sự thật” và “thần khí sai lầm” (1Ga 4,6), song song với “Thần Khí của Thiên Chúa” và “thần khí của phản Ki-tô” (1Ga 4,2-3). Như thế, mạch văn cho phép hiểu Thần Khí của Thiên Chúa là Thần Khí sự thật, còn thần khí của phản Ki-tô là thần khí sai lầm.

 

Từ “thần khí” (pneuma) dùng ở số nhiều: “Thẩm định các thần khí” (1Ga 4,1), “mọi thần khí” (1Ga 4,2.3). Số nhiều này ám chỉ thần khí (tâm trí) con người. Thần khí người nào thuộc về Thiên Chúa thì có “Thần Khí sự thật”, thần khí người nào không thuộc về Thiên Chúa thì ở trong “thần khí sai lầm.” Xem phân tích về “thần khí sự thật” và “thần khí sai lầm” trong Đấng Pa-rác-lê – Thần Khí sự thật – trong Tin Mừng thứ tư, tr. 101-103.

 

6. Mời gọi “hiệp thông” và “làm sự thật”

 

Những phân tích trên cho thấy thư thứ nhất Gio-an mô tả khủng hoảng trầm trọng ngay giữa cộng đoàn, liên quan đến các xu hướng Ki-tô học khác nhau. Vì thế, trong lời tựa thư thứ nhất Gio-an, tác giả khẳng định mạnh mẽ niềm tin chính thống của cộng đoàn và kêu gọi sự “hiệp thông” (koinônia). Tác giả viết ở 1Ga 1,1-4: “1Điều có từ khởi đầu, điều chúng tôi nghe, điều chúng tôi thấy tận mắt của chúng tôi, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng, và tay chúng tôi đã chạm đến về lời sự sống – 2Sự sống đã được tỏ bày, chúng tôi đã thấy, chúng tôi làm chứng và chúng tôi loan báo cho anh em sự sống đời đời, sự sống ấy ở với Cha và đã được tỏ bày cho chúng tôi –. 3Điều chúng tôi thấy và chúng tôi nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em, để chính anh em cũng có sự hiệp thông với chúng tôi. Sự hiệp thông của chúng tôi với Cha và với Con của Người, Đức Giê-su Ki-tô. 4Những điều này, chúng tôi viết cho anh em để niềm vui của chúng ta được trọn vẹn.”

 

Sự hiệp thông theo thư 1Ga hàm ẩm lựa chọn “bước đi trong ánh sáng” và “làm sự thật”. Tác giả thư 1Ga định nghĩa “hiệp thông với Thiên Chúa” và “hiệp thông với nhau” như sau: “5Và đây là lời loan báo mà chúng tôi nghe từ nơi Đức Giê-su Ki-tô, chúng tôi loan báo lại cho anh em rằng: Thiên Chúa là ánh sáng, và không hề có bóng tối nơi Người. 6Nếu chúng ta nói rằng: Chúng ta có sự hiệp thông với Người chúng ta đi trong bóng tối, chúng ta nói dối và không làm sự thật. 7Nhưng nếu chúng ta đi trong ánh sáng như chính Người ở trong ánh sáng, thì chúng ta có sự hiệp thông với nhau, và máu Đức Giê-su, Con của Người, thanh tẩy chúng ta khỏi mọi tội” (1Ga 1,5-7).

 

Tóm lại, trong hoàn cảnh xảy ra những sai lạc về Ki-tô học trong cộng đoàn. Tác giả thư thứ nhất Gio-an trình bày đạo lý chính thống mà tác giả đã đón nhận từ khởi đầu (1Ga 1,1). Từ đó, tác giả mời gọi cộng đoàn đứng về phía sự thật, và bước đi trong ánh sáng để được hiệp thông với Thiên Chúa và hiệp thông với nhau.

 

7. Kết luận

 

Những phân tích về đề tài “chia rẽ và hiệp thông”, “sự thật và dối trá” trên đây cho phép tóm kết lập trường của hai nhóm đối lập nhau trong thư thứ nhất Gio-an:

1) NHÓM CHÍNH THỐNG: tác giả và cộng đoàn độc giả.

2) NHÓM SAI LẠC: “những kẻ phản Ki-tô”.

NHÓM CHÍNH THỐNG

NHÓM SAI LẠC

Tuyên xưng Đức Giê-su Ki-tô, Đấng đã đến trong thân xác (1Ga 4,2)

Phân chia Đức Giê-su là lập trường của phản Ki-tô (1Ga 4,3)

Ở lại trong Con và trong Cha (1Ga 2,24b)

Chối Đức Giê-su là Đấng Ki-tô; chối Cha và Con (1Ga 2,22)

Thần Khí sự thật (1Ga 4,6) Thần Khí Thiên Chúa (1Ga 4,2)

Thần khí sai lầm (1Ga 4,6) Thần khí phản Ki-tô (1Ga 4,3)

Sự thật (1Ga 2,21)

Dối t(1Ga 2,21)

Thuộc về Thiên Chúa (1Ga 4,6)

Không thuộc về Thiên Chúa (1Ga 4,6)

Con cái Thiên Chúa (1Ga 4,6)

Những kẻ phản Ki-tô (1Ga 2,22; 4,3)

Các ngôn sứ giả (1Ga 4,1)

Làm sự thật (1Ga 1,6)

Không làm sự thật (1Ga 1,6)

Sự thật ở trong mình (1Ga 2,4), yêu thương trong sự thật (1Ga 3,18), thuộc về sự thật (1Ga 3,19)

Sự thật không ở trong mình (1Ga 2,4)

Bảng trên cho thấy sự đối lập rõ ràng giữa nhóm chính thống và nhóm sai lạc. Nhóm sai lạc này phát xuất từ giữa cộng đoàn của tác giả thư thứ nhất Gio-an (1Ga 2,19a). Đây là tranh luận và chia rẽ liên quan đến cách hiểu về vai trò và sứ vụ của Đức Giê-su. Bảng trên cho thấy lập luận của tác giả thư 1Ga mang màu sắc nhị nguyên (dualisme), nhằm mục đích trình bày cách rõ ràng “lập trường chính thống” và “lập trường sai lạc”. Xem bảng trên trong Đấng Pa-rác-lê – Thần Khí sự thật – trong Tin Mừng thứ tư, tr. 110-112.

 

Trong bối cảnh một số thành viên trong cộng đoàn đã lạc đường, tách khỏi cộng đoàn và lôi cuốn cộng đoàn theo họ, tác giả 1Ga viết thư cho cộng đoàn để củng cố niềm tin của cộng đoàn, đồng thời đưa ra những tiêu chuẩn giúp cộng đoàn thẩm định các thần khí, phân biệt “sự thật” và “dối trá”, để nhờ đó cộng đoàn giữ vững niềm tin chính thống, sống trong ánh sáng và làm theo sự thật./.


Ngày 20 tháng 11 năm 2011.

 

Giu-se Lê Minh Thông, O.P. 

http://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com/2011/11/chia-re-va-hiep-thong-su-that-va-doi.html

email: josleminhthong@gmail.com

giao-dan-hoc-hoi-kinh-thanh-lm-an-ton-nguyen-cao-sieu-s-j
Giáo dân học hỏi Kinh Thánh - Lm. An-tôn Nguyễn cao Siêu, S.J.

Giáo dân học hỏi Kinh Thánh không phải là một điều mới mẻ. Cách đây hơn nửa thế kỷ, Công đồng Vaticanô II đã tuyên bố trong Hiến Chế về Mặc Khải, Dei Verbum: “Thánh Công Đồng ân cần và đặc biệt khuyến khích mọi Kitô hữu, nhất là các tu sĩ, hãy đạt đến ‘sự hiểu biết tuyệt vời về Chúa Giêsu Kitô’ (Pl 3,8) nhờ năng đọc Sách Thánh. ‘Thật vậy, không biết Thánh Kinh là không biết Chúa Kitô’.

gioi-tre-va-viec-lang-nghe-loi-chua-lm-gioan-le-quang-viet
Giới trẻ và việc lắng nghe Lời Chúa - LM. Gioan Lê Quang Việt.

“Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” (Mc 10,17-21). Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đề cập đến Mt 19,16 trong thông điệp Veritatis Splendor và nhận định rằng, câu hỏi mà người trẻ đặt ra cho Đức Giêsu là một câu hỏi không thể tránh được nơi thâm sâu của mỗi đời người. Con người khát khao hạnh phúc và không ngừng tìm kiếm câu trả lời cho những vấn đề căn bản như: “ Con người là gì? Đâu là ý nghĩa của đau khổ, sự dữ và cái chết? Sao chúng còn tiếp tục tồn tại mặc dù đã có bao nhiêu tiến bộ?” (Gaudium et Spes 10).

loi-chua-trong-viec-day-giao-ly-lm-phero-nguyen-van-hien
Lời Chúa trong việc Dạy Giáo lý - Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hiền

Khi nói “Lời Chúa trong việc Dạy Giáo lý”, chúng tôi muốn đề cập tới vai trò của Lời Chúa trong Thánh Kinh được thể hiện như thế nào trong việc dạy giáo lý và trình bày vấn đề theo hướng suy tư và chia sẻ mục vụ. Người trình bày chỉ đúc kết lại suy nghĩ và nỗ lực của một nhóm đã và đang cộng tác với nhau hơn mười năm qua cho một công trình chung; đó là bộ giáo lý Hiệp Thông được biên soạn theo hướng Giáo Lý Thánh Kinh (Catéchèse Biblique).

loi-chua-ben-vung-den-muon-doi-gm-giuse-vo-duc-minh
Lời Chúa bền vững đến muôn đời - Gm. Giuse Võ Đức Minh

Tông Huấn “LỜI CHÚA” ( VERBUM DOMINI ) của Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI được chính thức công bố vào ngày 11 tháng 11 năm 2010. Mở đầu Tông Huấn, Đức Thánh Cha muốn làm vang vọng lại cho cả Hội thánh lời tuyên xưng đức tin cùng với tâm tình và kinh nghiệm sống từ hai ngàn năm về trước của Thánh Phêrô, vị ngư phủ Galilê, người đã được Đức Giêsu Nadarét tuyển chọn và đặt làm nền tảng Hội thánh: “Lời Chúa bền vững đến muôn đời. Đó chính là Lời Tin Mừng đã được loan báo cho anh em” (1 Pr 1, 25).

gia-dinh-va-cong-doan-nho-voi-viec-cu-hanh-loi-chua-gm-lu-y-nguyen-anh-tuan
Gia đình và cộng đoàn nhỏ với việc cử hành Lời Chúa - GM. Lu-y Nguyễn Anh Tuấn

Con người ở một mình không tốt, vì một mình con người không thể hoàn tất mục đích của mình trong tạo thành. Thiên Chúa không đơn độc, bởi thế con người cũng không thể sống một mình. Con người cá thể đơn độc không thể mang hình ảnh giống như Thiên Chúa được.Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, trong lần viếng thăm đầu tiên các nước châu Mỹ, đã nói: “Thiên Chúa trong mầu nhiệm thẳm sâu nhất của Ngài không đơn độc nhưng là một gia đình vì lẽ Thiên Chúa trong Ngài có Cha, có Con và có Yếu tính của gia đình, tức là Tình Yêu”.

cac-hoat-dong-muc-vu-kinh-thanh-trong-giao-phan-dgm-giuse-vu-van-thien
Các hoạt động Mục vụ Kinh Thánh trong Giáo phận - ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên

“Kinh Thánh không dạy chúng ta làm thế nào để nói về Thiên Chúa, nhưng dạy những gì Chúa nói với chúng ta; Kinh Thánh cũng không chỉ dẫn cho chúng ta cách tìm thấy con đường dẫn tới gặp Chúa, nhưng là cách thế Chúa đã tìm thấy con đường tới gặp chúng ta” (Karl Barth). Lời nhận định trên đây của Karl Barth chứng minh Thiên Chúa chủ động ngỏ lời với chúng ta. Ngài cũng “đi bước trước” và có sáng kiến đến gặp gỡ con người. Mạc khải là đặc tính chung của ba tôn giáo lớn: Đạo Do Thái, Đạo Hồi và Đạo Kitô.

Quý độc giả có thể gửi thư cho người quản trị website, đóng góp ý kiến, đưa ra những yêu cầu, thắc mắc...

Quý độc giả có thể email trực tiếp tới kinhthanhvn@gmail.com.



Xin cảm ơn!.

Hỗ trợ & Cung Cấp Website Wsup3

Copyright © 2016 KINHTHANHVN.NET.