kinhthanh

TRANG CHỦ li-category GIẢI ĐÁP THẮC MẮC li-category Cái chết của Đức Giêsu và cái chết của chúng ta

Chúng ta phải hiểu cái chết của Đức Giêsu thế nào? Chúng ta có thể nói về cái chết như thế nào? (Phan)

 

Anh Phan thân mến,

 

1) Đức Kitô đã trải qua kinh nghiệm về một cái chết trong tình trạng cô đơn trọn vẹn, với những đau đớn khôn tả trên thân xác, bị sỉ nhục thậm tệ và đó là một cái chết với màu sắc của sự thất bại hoàn toàn. Cái chết được coi như là sự triệt tiêu hoàn toàn cuộc sống con người: Đức Giêsu phải đảm nhận trọn vẹn kinh nghiệm này. Nhưng nhờ thế, Người đã đưa lại cho cái chết sự thật của nó và ý nghĩa sâu xa nhất của nó. Tự nó, cái chết biểu hiện cụ thể tội lỗi loài người và sự đoạn tuyệt của loài người với Thiên Chúa, nay trong Đức Kitô, nó trở thành cách diễn tả tối đa lòng yêu mến đối với Thiên Chúa và sự quy phục Người. Trong cái chết, tội lỗi cũng như tình yêu đều đã đạt tới hiệu quả tối đa. Vào lúc mà tội lỗi của loài người đạt tới cao điểm và đóng đinh Đấng Công chính, Đấng Vô tội, thì cái chết của Đức Kitô lại trở thành hành vi yêu thương của Chúa Con trao hiến bản thân cho Chúa Cha. Do trọn vẹn phó thác mình cho Chúa Cha và đăt hết niềm hy vọng nơi Chúa Cha, Đức Kitô đã chiến thắng cái chết. Chính hành vi hiến mình cho mầu nhiệm của Thiên Chúa–Tình Yêu, với việc chấp nhận thất bại của thập giá, đã đưa lại một ý nghĩa cho cuộc sống con người, một cuộc sống cuối cùng “đã hoàn tất” trong cái chết. Tuy vẫn không vì thế mà mất đi chút gì trong tính tăm tối của nó, cái chết đã trở thành một cái gì khác hẳn: sự hiến mình của tất cả con người cho Thiên Chúa để sống bằng sự sống của Người.

 

Có một đoạn sách rất “triết”, xin ghi lại đây: “Trong khi trong Cựu Ước, Thiên Chúa tỏ ra là Đấng ở xa cái chết một cách vô biên và không hề bị cái tính vô lý của cái chết chạm tới, trong cái chết của Đức Kitô, chính Thiên Chúa lại chịu tiếp xúc với cái chết. Trong Đức Giêsu chết, Thiên Chúa đã thực sự đưa mình ra chịu lấy sức tấn công của cái tính kỳ quặc của cái chết, đã đưa thần tính của Người ra chịu lấy sức mạnh triệt tiêu của cái chết. Và Người đã làm như thế chính là để hiện diện với mọi con người... Nhưng nếu ngay trong cái chết, Thiên Chúa vẫn không ngừng quan hệ với chúng ta (…), điều đó có nghĩa là trong lòng của cái tính vô lý của cái chết, đã phát sinh một quan hệ mới giữa Thiên Chúa và con người... Thiên Chúa đã dấn mình vào ngay tại nơi mà các quan hệ bị bẻ gãy và các tương quan bị tiêu tán. Chính vì Thiên Chúa cứ đưa mình ra cách vô vị lợi như thế mà Người lại mạc khải được chính bản tính Người”[1].

 

2) Theo cách hiểu trần tục, người ta hiểu “hồn” là cách tổ chức đặc biêt tiêu biểu của một cơ thể, và như thế, “chết” là hồn tách khỏi cơ thể vật chất. Và khi đó, xác sẽ dần dần tan rã. Con chúng ta đã quen với định nghĩa cổ điển về “cái chết”: “Chết là linh hồn lìa khỏi xác”. Câu nói tưởng có vẻ rõ ràng ấy lại chẳng có gì rõ ràng cả, bởi vì người ta có thể nêu ra đủ thứ vấn nạn rất là “móc họng” từ câu “định nghĩa” ấy, chẳng hạn: khi nào thì chúng ta biết là hồn bắt đầu lìa khỏi xác? Hồn ở trong xác từ đâu đến đâu và rút khỏi xác bắt đầu từ phần nào? … Những câu hỏi ấy cũng như câu “định nghĩa” trên đều do chỗ chúng ta hiểu con người “gồm có xác và hồn”, trong khi “con người xác và hồn”. Định nghĩa ấy không nói gì về tính độc đáo (so với các sinh vật khác) của cái chết loài người, với nét là nó liên hệ đến toàn con người như một nhân vị có tinh thần và có xác thịt. Định nghĩa ấy xác định cái chết như sự cắt đứt sự sống, nhưng không cho thấy cái chết cũng là biến cố hoàn tất con người tự do. Chính giáo lý cổ truyền cũng diễn tả là trong khi xác tan rữa ra sau cái chết, linh hồn những người công chính được đưa vào cuộc sống hiệp thông với Thiên Chúa. Tuy nhiên, Kinh Thánh có một quan niệm về con người là “một”, và “hồn không phải là một phần của con người ở bên cạnh xác, nhưng là nguyên lý chính yếu của con người nhìn trong tính duy nhất và toàn diện, nghĩa là cái “tôi”, trung tâm của con người. Để khỏi rơi vào kiểu diễn tả “chia hai” như thế, chính Thánh Bộ Giáo lý Đức Tin, trong “Thư về một số câu hỏi liên quan đến cánh chung” (tháng 5/1979) đã không dùng từ ngữ “linh hồn”, mà dùng một kiểu nói khác, khi dạy: “Có một yếu tố thiêng liêng có ý thức và ý chí tồn tại sau khi con người chết”. 

 

Vì thế chiều hướng mới của thần học phác họa cái chết không như một điều từ bên ngoài xảy đến cho con người, nhưng như một hành vi rõ ràng của nhân vị con người liên hệ đến bản tính đặc biệt của cuộc sống con người. Là khoảnh khắc cuối cùng của lịch sử của con người tự do, cái chết được coi như hành vi quyết liệt của tự do con người trong đó con người có thể hoặc chấp nhận hoặc loại bỏ mầu nhiệm Thiên Chúa và do đó đóng dấu ấn cuối cùng lên lịch sử và vận mạng của riêng mình.

 

Tuy nhiên, trong Sách Giáo Lý chính thức (1992), Hội Thánh vẫn dùng lại những từ ngữ và kiểu diễn tả truyền thống vì quen thuộc dễ hiểu (ví dụ, tại số 366: “Linh hồn không tiêu tán khi rời khỏi xác trong cái chết”), nhưng đồng thời nhấn mạnh đến tính duy nhất xác-hồn nơi con người (xem GLGHCG số 362: “Con người, được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, là một hữu thể vừa có thân xác vừa có tinh thần”; số 363: “Từ ngữ linh hồn ở trong Kinh Thánh thường có nghĩa là đời sống con người hoặc tất cả con người. Nhưng từ ngữ ấy cũng chỉ điều sâu xa nhất nơi con người, điều mà do đó con người là hình ảnh Thiên Chúa cách đặc biệt nhất: “linh hồn” có nghĩa là nguyên lý thiêng liêng nơi con người”. Xem thêm số 365).

 

Xin Chúa Kitô Phục Sinh luôn ở với anh, để từng bước dẫn đi từ cõi chết mà vào cõi sống muôn đời.

 

Mến,

Lm. FX Phan Long, ofm


-----------------------------------------
[1]
E. JuŠngel, Cái chết (Morte) (Queriniana; Brescia 1972) 156-157.

tim-hieu-ve-le-truyen-dau
Tìm hiểu về Lễ Truyền Dầu?

Sở dĩ gọi là lễ Truyền Dầu, vì trong thánh lễ này, Đức Giám mục sẽ hiến thánh Dầu Thánh, làm phép Dầu Bệnh nhân và Dầu Dự tòng, dùng để cử hành một số bí tích và phụ tích.Lễ này cũng còn có mục đích tưởng niệm việc Chúa lập bí tích Truyền chức Thánh, tấn phong một số người được tuyển chọn lên làm Linh mục, ban cho các ngài quyền hành động nhân danh Chúa Kitô để làm những việc, đúng ra, chỉ mình Thiên Chúa có thể làm, như tái diễn hy lễ của Chúa Ktiô trên Thánh giá, tha tội cho muôn người, v.v..

ti-sao-knh-thnh-giuse-vo-thng-ba-2
Tại Sao Kính Thánh Giuse Vào Tháng Ba?

Nhằm để chuẩn bị mừng lễ, người ta tổ chức ba ngày hay chín ngày dọn mình; và rồi tính cách long trọng của lễ còn kéo dài ra suốt tuần bát nhật. Vị chi là non 20 ngày rồi, cho nên kéo dài ra thêm một tháng cũng chẳng vất vả gì. Điều này rõ rệt với phụng vụ Đông phương: ngày 15 tháng 8 là lễ Đức Mẹ lên trời; các đan sĩ dành 15 ngày trước đó để chuẩn bị và kéo dài thêm 15 ngày sau đó. Trong bối cảnh đó, chúng ta có thể hiểu được vì sao tháng 3 được dành cho thánh Giuse, bởi vì lễ thánh Giuse được mừng trong tháng 3, ngày 19. Việc dâng kính tháng 3 cho thánh Giuse được Đức Giáo Hoàng Piô IX chuẩn nhận ngày 27/4/1865.

vi-sao-nguoi-cong-giao-khong-an-thit-ngay-thu-sau-mua-chay
Vì sao người công giáo không ăn thịt ngày thứ sáu Mùa Chay?

Vì sao Giáo hội yêu cầu người công giáo không ăn thịt các ngày thứ sáu Mùa Chay (ngày thú tư Lễ Tro và Thứ Sáu Tuần Thánh) nhưng lại cho phép ăn cá? Trước hết là câu hỏi: “Vì sao ngày thứ sáu?” Từ xa xưa, chúng ta không còn nhớ bắt đầu từ lúc nào, các cộng đoàn công giáo xem ngày thứ sáu là ngày đặc biệt để ăn năn hối cải, trong niềm vui, họ chia sẻ với nhau các sự thương khó của Chúa Kitô trong hy vọng một ngày được vinh quang với Ngài.

tai-sao-goi-la-“chua-cac-dao-binh”
Tại sao gọi là “Chúa các đạo binh”?

Trong thánh lễ, sau kinh Tiền tụng, tất cả cộng đoàn hát lên lời tung hô: “Thánh, Thánh, Thánh, Chúa là Thiên Chúa các đạo binh”. Tại sao gọi là “Thiên Chúa các đạo binh”? Phải chăng Chúa có một quân lực hùng hậu, bách chiến bách thắng? Lời chúc tụng “Thánh thánh thánh” được trích từ đoạn văn Isaia chương 6, câu 2-3, mô tả một thị kiến trong đền thờ: Thiên Chúa hiện ra với ông Isaia như là một hoàng đế lâm triều, ngự trên ngai, và các thần Sêraphim tung hô: “Thánh thánh thánh…"

cuu-roi-va-cuu-the-khac-nhau-the-nao
Cứu Rỗi Và Cứu Thế Khác Nhau Thế Nào?

Có lẽ một từ ngữ được nghe nói nhiều nhất trong văn chương công giáo là: sự cứu rỗi. Đức Kitô cũng được gọi là Chúa Cứu thế, Đấng Cứu chuộc. Thế thì: “cứu rỗi, cứu thế, cứu chuộc” có gì khác nhau hay không? Danh mục các từ ngữ còn có thể kéo dài thêm nữa: cứu thoát, cứu độ, cứu tinh, Cứu Chúa. Dù sao, nên biết không phải chỉ có Kitô giáo mới sử dụng các từ ngữ đó. Có thể nói được là tất cả các tôn giáo đều phải bàn tới sự cứu rỗi cách nào đó.

th-vn-midrash-ca-sch-kinh-thnh-l-th-vn-g--2
Thể văn MIDRASH của sách KINH THÁNH là thể văn gì?

Thuật ngữ MIDRASH là tiếng Híp-ri có nghĩa là “xem xét” (examiner), “giải thích” (expliquer). Thể văn midrash là loại văn chương chú giải (exégèse) các sách Kinh Thánh của các thầy Ráp-bi (các thầy dạy trong Do Thái giáo).

Quý độc giả có thể gửi thư cho người quản trị website, đóng góp ý kiến, đưa ra những yêu cầu, thắc mắc...

Quý độc giả có thể email trực tiếp tới kinhthanhvn@gmail.com.



Xin cảm ơn!.

Hỗ trợ & Cung Cấp Website Wsup3

Copyright © 2016 KINHTHANHVN.NET.