kinhthanh

TRANG CHỦ li-category Chuyên đề li-category Bảy Bài Giáo Lý của Đại Hội Gia Đình Thế Giới 2018: Bài 1 và 2

Bảy Bài Giáo Lý của Đại Hội Gia Đình Thế Giới 2018: Bài 1. Các Gia Đình Ngày Nay
 Chúng ta biết là vào những ngày 22-26/8 tới đây sẽ có Đại hội Gia đình Thế giới lần thứ IX với chủ đề “Tin Mừng của Gia đình: Niềm Vui cho Thế giới” được tổ chức tại Dublin, thủ đô Ái nhĩ lan.
Đại hội Gia đình Thế giới (ĐHGĐTG hay WMOF trong tiếng Anh) là sáng kiến của Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II, được tổ chức 3 năm một lần như một sự tập hợp đại quy mô các gia đình để cầu nguyện, học hỏi và tôn vinh, thu hút sự tham gia của đông đảo Kitô hữu từ khắp nơi trên thế giới nhằm:
  • Khẳng định tầm quan trọng của  hôn nhân và gia đình đối với mọi xã hội;
  • Tăng cường mối liên kết giữa các gia đình;
  • Hướng dẫn, cổ vũ sự đồng hành với các gia đình trong việc thực hiện sứ mệnh của gia đình theo kế hoạch của Thiên Chúa
  • Cổ vũ tình liên đới và đoàn kết của các gia đình trước những khó khăn thử thách.

Đã có tất cả 8 kỳ ĐHGĐTG như sau:

  • ĐHGĐTG I tại Roma với chủ đề “Gia đình: Trái tim của nền Văn minh sự Sống”(1994)
  • ĐHGĐTG II tại Rio de Janerio (Argentina) với chủ đề “Gia đình: Quà tặng, sự Gắn kết và niềm Hy vọng cho Nhân loại” (1997).
  • ĐHGĐTG III tại Roma với chủ đề “Trẻ em: mùa Xuân của Gia đình và Hội thánh” (2000).
  • ĐHGĐTG IV tại Manila (Philippines) với chủ đề “Gia đình kitô giáo: Tin mừng cho Thiên niên kỷ thứ ba” (2003).
  • ĐHGĐTG V tại Valencia (Tây ban nha) với chủ đề “ Truyền thụ đức tin trong Gia đình” (2006).
  • ĐHGĐTG VI tại Mexico city (Mexico) với chủ đề “ Gia đình: Thày dạy các giá trị nhân bản và kitô giáo” (2009).
  • ĐHGĐTG VII tại Milano (Ý) với chủ đề “Gia đình, Lao động và Mừng lễ” (2012).
  • ĐHGĐTG VIII tại Phildelphia (Hoa kỳ) với chủ đề : “Tình yêu là Sứ mệnh của chúng ta - để gia đình sống dồi dào” (2015).

Mỗi ĐHGĐTG đều có 3 phần:

1/ Hội nghị thần học và mục vụ với các bài thuyết trình, các cuộc hội thảo, đàm luận, chứng từ…  xoay quanh bảy bài giáo lý của chủ đề Đại Hội.

2/ Lễ Hội các gia đình (ngày thứ tư của Đại hội) với sự hiện diện của Đức Thánh Cha  – có các chứng từ của các gia đình, trình diễn ca vũ nhạc.

3/ Thánh lễ đại triều do Đức Thánh Cha chủ sự.

BÀI GIÁO LÝ 1: CÁC GIA ĐÌNH NGÀY NAY

"CON ƠI, SAO CON LẠI XỬ VỚI CHA MẸ NHƯ VẬY? CON THẤY KHÔNG, CHA CON VÀ MẸ ĐÂY ĐÃ PHẢI CỰC NHỌC TÌM CON! " (Lc 2, 48)

Lạy Mẹ Maria, là người phụ nữ lắng nghe,
xin mở tai chúng con:
cho chúng con biết lắng nghe Lời  Chúa Giêsu, Con của Mẹ,
giữa muôn ngàn tiếng nói của thế giới này.
Xin cho chúng con biết lắng nghe thực tại đời sống chúng con,
từng con người chúng con gặp gỡ,
cách riêng những người nghèo nhất, trắng tay, đang gặp khó khăn.

Lạy Mẹ Maria, là người phụ nữ quyết định,
xin soi sáng tâm trí chúng con,
để chúng con biết vâng nghe Lời Chúa Giêsu, Con của Mẹ, không do dự.
Xin  cho chúng con sự can đảm khi quyết định,
không để bị lôi kéo,
hay phó mặc cho kẻ  khác định hướng đời mình.
Lạy Mẹ Maria, là người phụ nữ hành động,
xin  cho đôi tay và đôi chân chúng con biết "vội vã" đến với người khác,
đem cho họ lòng bác ái và tình yêu của Chúa Giêsu, Con Mẹ,
và giống như Mẹ,
đem ánh sáng Tin Mừng cho thế giới. Amen.

(ĐTC Phanxicô, Quảng trường Thánh Phêrô 31.5.2013)

Các sách Tin Mừng tường thuật rất ít biến cố liên quan đến Thánh Gia Nadarét. Nhiều chuyện được để mặc cho chúng ta tưởng tượng, bởi vì Chúa Giêsu đã sống với cha mẹ ở Nadarét gần ba mươi năm. Do đó các mẫu chuyện ít ỏi được kể lại trở nên then chốt để chúng ta thoáng hiểu được mầu nhiệm của Gia Đình này.

Tin Mừng theo thánh Luca kể lại câu chuyện duy nhất liên quan đến Chúa Giêsu khi lên mười hai tuổi, (thời đó tuổi này không phải là tuổi của một thiếu niên mà thôi, song là tuổi của một con người vừa đạt tới mức trưởng thành), là lúc Ngài đã có một tương tác với cha mẹ. Đây là câu chuyện nổi tiếng về "tìm lại được Chúa Giêsu trong Đền Thờ đang ngồi giữa các thầy thông Luật".

 Chắc hẳn chúng ta chờ đợi ở câu chuyện này một bức tranh tuyệt mỹ về Thánh Gia thất, tương tự một trong những đoạn quảng cáo ngắn cho thấy mọi thành viên gia đình ai cũng đẹp, lúc nào cũng mỉm cười rạng rỡ, trong một sự thuận hòa  hoàn hảo và tuyệt đối. Trái lại, trước sự kinh ngạc sững sờ của chúng ta, Tin Mừng lại kể cho chúng ta một câu chuyện khác. Như kiểu nói rất thời thượng hiện nay, đó là Thánh Gia thất đang gặp "khủng hoảng". Đức Maria và thánh Giuse là những con người rất sùng đạo, hằng năm đều lên đền thờ Giêrusalem mừng lễ Vượt Qua, như thánh Luca tường thuật. Các ngài dẫn theo cậu bé Giêsu để giáo dục cậu theo các nhịp sống tôn giáo này. Nhưng trên đường từ Giêrusalem trở về,  sau một ngày tìm kiếm con, các ngài đã không tìm thấy cậu trong đoàn hành hương. Gia đình này ra đi để cầu nguyện, nhưng nhìn bên ngoài, hình như lời kinh của họ, việc làm đạo đức của họ không tránh được cho họ khỏi những khốn khó trong gia đình. Chúng ta mường tượng sau đó Mẹ Maria và Thánh Giuse có thể cảm nghiệm điều gì trước biến cố hoàn toàn bất ngờ này. Một người cha, và nhất là một người mẹ, có thể hiểu được nỗi sầu lo ghê gớm thế nào bao trùm lên bậc cha mẹ khi bỗng nhiên bị mất đứa con của mình mà không biết đi tìm ở đâu. Tóm lại, Gia Đình thánh này không cho chúng ta được một hình ảnh đẹp, không cho chúng ta một chứng từ tốt lành và không thể là một mẫu gương.

Tại sao thánh sử Luca quyết tâm kể lại cho chúng ta câu chuyện này và để lại trong lịch sử chúng ta biến cố bi đát như thế? Tất cả những điều ấy phá vỡ cách suy nghĩ của chúng ta về gia đình này, và chắc hẳn đẩy chúng ta tới nơi khác, tới những chuyện khác, tới một mầu nhiệm cao cả hơn, vượt quá khỏi tầm hiểu biết của chúng ta.

Như thế, trong Tông huấn "Niềm Vui của Tình Yêu", Đức Thánh Cha Phanxicô mở mắt chúng ta về mầu nhiệm này. "Thánh Kinh nói nhiều về các gia đình, các thế hệ, các câu chuyện tình và những khủng hoảng gia đình, từ trang đầu, ngay khi bước vào khung cảnh gia đình của Ađam và Eva, cùng với gánh nặng của bạo lực, có cả sức mạnh của sự sống vẫn tiếp diễn (x. St 4)" (AL 8). Lời Chúa không hề trình bày cho chúng ta một hình ảnh lý tưởng và trừu tượng về gia đình, như chúng ta có thể chờ đợi, nhưng cho chúng ta thấy trước mắt những câu chuyện của những gia đình thật, với nét đặc thù và duy nhất của các vấn đề của chúng, những khó khăn và thách đố. Lời Chúa thật sự thúc đẩy chúng ta vào trong thực tại với "sự hiện diện của đau khổ, sự ác và bạo lực có sức phá vỡ đời sống gia đình và sự hiệp thông thân mật trong đời sống và tình yêu" (AL 19). Cũng thế, "Trước mỗi gia đình, hình ảnh Gia đình thánh Nadarét vẫn xuất hiện, với những nỗi vất vả thường ngày thậm chí với cả những cơn ác mộng, như khi thánh gia phải chịu đựng hành vi bạo lực phi lí của Vua Hêrôđê, đó cũng là kinh nghiệm bi thương mà ngày nay vẫn tiếp tục tái diễn trong nhiều gia đình tị nạn bị bỏ rơi không được bảo vệ".

Thế nên, điểm cốt yếu không phải là sự thiếu vắng khủng hoảng trong các gia đình (chẳng có gia đình nào, ngay cả Thánh Gia thất, được miễn trừ), nhưng là làm sao  phản ứng trước bất kỳ cơn khủng hoảng nào.

Tường thuật của thánh Luca, với cái nhìn sáng suốt và thực tế, cống hiến cho tất cả các gia đình những qui chiếu cơ bản, trở thành một trường học đời sống cho mọi người. Thoạt nhìn, chúng ta, bậc làm cha mẹ hiện nay, vốn đều dành cả ngàn sự chăm sóc yêu thương cho con cái, hẳn chúng ta đã nhận ra ngay sự thiếu khôn ngoan của thánh Giuse và Mẹ Maria khi để con  đi một mình và không theo dõi  suốt một ngày trời trên đường về nhà.

Thực ra, theo văn hóa thời ấy, trẻ Giêsu khi đó không còn được coi là vị thành niên nữa, đó là lý do cậu được đối xử theo tuổi của mình. Ngoài ra, chúng ta có thể nêu lên một cách hành xử khác mang ý nghĩa sâu xa hơn và cho nó một sự đánh giá rất được áp dụng trong lãnh vực xã hội cũng như Hội thánh: "thách đố giáo dục".

Về điều này, Đức Thánh Cha Phanxicô trao cho tất cả chúng ta một hướng dẫn mang tính tiên tri. "Lo lắng quá đến mức bị ám ảnh thì không phải là giáo dục, và chúng ta không thể kiểm soát hết mọi tình huống mà con mình có thể trải qua. [...] Vậy câu hỏi quan trọng đặt ra không phải  là biết con mình hiện đang ở đâu, lúc này nó đang ở với ai, theo nghĩa thể lý, nhưng là hiện giờ nó đang ở đâu theo nghĩa hiện sinh, nghĩa là nó đang đặt những xác tín, mục tiêu, ước muốn, dự tính cuộc đời mình ở đâu. Thế nên, những câu hỏi mà tôi muốn nêu lên với các bậc cha mẹ là: "Chúng ta có tìm hiểu con mình đang thật sự "ở đâu" trong hành trình đời sống của chúng không? Tâm hồn chúng đang thật sự ở đâu, chúng ta có biết không? Và nhất là, chúng ta có muốn biết điều đó không?" (AL 261).

Chúng ta thường thấy nhiều  cha mẹ bận tâm nhìn thấy  con cái tham gia thật nhiều sinh hoạt, học tập, thể thao, nghệ thuật, có lẽ bằng cách  thúc đẩy chúng làm những gì  mà  chính mình hồi còn trẻ đã muốn. Tuy nhiên, họ lại chẳng bao giờ  dành thởi gian dừng lại với con để lắng nghe, dù chỉ trong giây lát, tiếng nói  của trái tim con mình.

Thánh Giuse và Mẹ Maria đã gặp nguy cơ đó, với tất cả sự khắc khoải kèm theo, và chỉ sau ba ngày, ba ngày dài vô tận, hai ngài tìm thấy cậu Giêsu trong Đền Thờ. Phản ứng đầu tiên của các ngài thật sự là ngạc nhiên vì, như chúng ta đọc trong Niềm Vui của Tình Yêu, "Hẳn nhiên, mỗi đứa con sẽ làm ta ngạc nhiên với các dự tính của chúng xuất phát từ tự do ấy, chúng phá vỡ cả những khuôn mẫu của cha mẹ, và nếu điều đó có xảy đến thì cũng tốt. Giáo dục gồm cả nhiệm vụ giúp phát triển sự tự do có trách nhiệm, để tại các giao điểm của cuộc đời chúng biết lựa chọn với ý ngay lành và thông minh; đào tạo những con người hiểu rõ được rằng cuộc sống của mình và của cộng đoàn mình là do mình định đoạt và sự tự do này là quà tặng vô cùng lớn lao." (AL 262).

Con cái luôn là một sự ngạc nhiên, mãi mãi là một mầu nhiệm cho cha mẹ ngay từ khi được thụ thai. "Với sự tiến bộ của khoa học ngày nay người ta có thể biết trước màu tóc của em bé và những bệnh tật có thể có của nó trong tương lai, bởi vì tất cả các đặc tính thể lý của con người đã ghi trong giai đoạn phôi thai. Nhưng chỉ Chúa Cha, Đấng tạo thành con người ấy mới biết họ một cách đầy đủ. Chỉ một mình Ngài mới biết điều gì là quý nhất, điều gì là quan trọng nhất, bởi vì Ngài biết đứa trẻ đó là ai, đâu là căn tính sâu xa nhất của nó." (AL 170).

Vì thế, đứng trước mầu nhiệm của đứa con, thái độ chân thật nhất không bao giờ   là phê phán, thất vọng, tố cáo, kết án. Biết bao lần người ta nghe thốt ra từ miêng  cha mẹ những lời thật sự làm tổn thương con cái họ : "mày thật không phải là đứa con mà tao mong chờ!". Trước "đứa con, phản ảnh sống động tình yêu của họ, dấu chỉ thường xuyên của sự hiệp nhất vợ chồng và là tổng hợp sống động không thể phân chia của tư cách làm cha làm mẹ của họ" (AL 165), thái độ thánh thiện nhất là mở lòng cho sự ngạc nhiên Thiên Chúa gây ra. Tất cả các điều này không thể làm theo kiểu lên đồng hay bằng phương thức lạ thường nào cả. Chắc chắn điều bất ngờ làm xáo trộn, bối rối và gây nên khoắc khoải, như trường hợp của thánh Giuse và Mẹ Maria. Thật vậy, người ta đã nói các ngài tìm cậu Giêsu với lòng khoắc khoải. Tin Mừng không làm con tim mất đi tính người, nhưng tôn trọng và mở lời cho tình cảm, vốn không tốt mà cũng không xấu; đồng thời Tin Mừng cũng dạy cho chúng ta biết quan tâm đến tình cảm của mình, luôn luôn đặt cho mình những câu hỏi và biết hỏi.

Thánh Giuse và Mẹ Maria cũng đặt một câu hỏi cho cậu Giêsu. Thật ra chính Mẹ Maria đặt câu hỏi, nhân danh cả hai người. Chính Mẹ hỏi cậu Giêsu. Những lời Mẹ dùng cách lạ lùng, qua vài lời đối đáp, mở ra cho chúng ta mầu nhiệm đích thật của việc làm cha mẹ. "Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!" (Lc 2,48).

Một đứa con vẫn luôn luôn là con, và là con, nó phải luôn luôn được gọi, được nhìn nhận và yêu thương. Phải luôn hỏi và đặt câu hỏi đứa con và không bao giờ được tố cáo hay kết án nó. Nhiều cha mẹ không bao giờ sợ liên lụy trong tương quan với con cái: "Sao con lại xử với cha mẹ như vậy?" Vấn đề ở đây không  phải là quy luật đạo đức, hay bổn phận, hay cái đúng/sai, điều quan hệ nhất chính  là mối tương quan, và trong trường hợp này, là mối tương quan cơ bản giữa cha mẹ và con cái. Mẹ Maria còn đi xa hơn nữa. Mẹ làm sáng tỏ không những mối tương quan giữa cha mẹ và con cái, nhưng còn là mối tương quan giữa người cha, người mẹ và đứa con trong sự viên mãn và toàn vẹn của nó. Chính ngài, người mẹ, lên tiếng không chỉ nhân danh mình, nhưng trước hết là nhân danh người cha rồi sau đó nhân danh chính mình. Đàng sau cảnh này ẩn dấu một trật tự lạ thường của chức vị làm cha và chức vị làm mẹ trong tương quan với việc làm con.

Đức Thánh Cha xác định rất đúng rằng: "cả hai người đóng góp, mỗi người một cách khác nhau, vào sự giáo dục đứa con. Tôn trọng phẩm giá của đứa con có nghĩa là khẳng định nhu cầu và quyền tự nhiên của nó được có một người mẹ và một người cha. Vấn đề không chỉ là tình yêu của người cha và của người mẹ xét cách riêng rẽ, mà còn tình yêu của họ dành cho nhau, vốn được coi như nguồn mạch của chính sự hiện hữu, như tổ ấm tiếp nhận và như nền tảng của gia đình. Nếu không, đứa trẻ xem ra chỉ còn là con vật sở hữu được dùng tùy tiện. Cả người nam và người nữ, người cha và người mẹ đều là "những người cộng tác với Tình Yêu Thiên Chúa Tạo Hóa và như thể họ là những thông dịch viên của Ngài. Họ tỏ lộ cho con cái họ dung mạo người mẹ và dung mạo người cha của Chúa." (AL 172).

Tại sao mẹ Maria lên tiếng chớ không phải là thánh Giuse? Tại sao mẹ nêu tên người chồng đầu tiên? Vì từ khi thế giới là thế giới, chúng ta không thể chối bỏ bằng bất cứ cách nào tính độc nhất vô nhị của tương quan giữa mẹ và con mình cưu mang trong dạ. Chính người mẹ "hợp tác với Thiên Chúa để sinh ra phép lạ là một sự sống mới". (AL 168). Cưu mang đứa con trong lòng, trong dạ mình, không phải chỉ là một chuyện của thể xác hay sinh lý hay  nhất thời của người mẹ, nhưng cho thấy một chiều kích thường trực làm nên đặc tính là mẹ nơi người phụ nữ. Mẹ Maria ngỏ lời với cậu Giêsu vì ngài có một tương quan gần gũi và thân mật cao nhất với con mình, nhưng đồng thời (và đây là một điều mà các bà mẹ ngày nay luôn cần phải học tập), mẹ được dùng làm gạch nối với thánh Giuse và khẳng định vị thế ưu tiên của tư cách làm cha đối với tư cách làm mẹ. Ở đây chúng ta ở thật xa thứ ngôn ngữ văn hóa hay xã hội hay đạo đức, hay xa hơn nữa, giới tính, là  nơi người ta khẳng định vị thế ưu tiên của người cha trên người mẹ. Trình thuật của Tin Mừng đưa cái nhìn của chúng ta đi xa hơn nhiều, cao hơn, sâu xa hơn: người cha là dấu chỉ của tư cách làm Cha của Thiên Chúa. Tuy vậy, ngày nay chúng ta chứng kiến sự gì? - "Một xã hội không có người cha". "Trong nền văn hóa tây phương, có lẽ khuôn mặt của người cha một cáh biểu trưng đang thiếu vắng, hoặc bị loại bỏ, hay đã biến mất." (AL 176). Khi ấy, Tin Mừng soi chiếu cho chúng ta một sự thật căn bản, "con cái cần tìm gặp một người cha đang chờ đợi chúng khi chúng trở về sau những lỗi lầm của chúng. Chúng sẽ làm mọi cách để không thừa nhận điều đó, để không cho thấy điều đó, nhưng chúng cần điều đó." (AL 177).

  Mẹ Maria và thánh Giuse đã thành công trong việc thông đạt như người mẹ và người cha đối với trẻ Giêsu, là bởi vì tại nền tảng sự hiệp đồng giữa vợ chồng của các ngài thật sâu xa. Biết bao lần chúng ta quên rằng nền tảng của việc làm cha mẹ không chỉ là mối liên hệ làm con (người ta không trở nên cha mẹ chỉ vì đã sinh ra tự nhiên một đứa con, và thánh Giuse là một chứng tá cụ thể), nhưng còn bởi mối tương quan phu phụ của đôi bạn. Thật vậy, cuộc khủng hoảng cơ bản mà hiện nay các gia đình gặp phải hơn bao giờ hết liên quan chủ yếu ở chỗ hai người phối ngẫu thất học về mặt tình cảm vốn phát sinh từ mối tương quan căn bản giữa hai người phối ngẫu và vang âm trong mọi lãnh vực khác, từ đó tạo nên thứ "văn hóa tạm bợ". "Tôi nghỉ đến, chẳng hạn, lối sống tốc độ trong đó người ta thay đổi từ quan hệ tình cảm này sang quan hệ tình cảm khác. Người ta tưởng rằng tình yêu, cũng giống như các mạng xã hội, có thể kết nối hay ngưng kết nối tùy theo sở thích của người tiêu dùng, và cũng có thể nhanh chóng "bị chặn". Tôi cũng nghĩ tới nỗi sợ mà người ta cảm thấy bởi viễn cảnh của một sự dấn thân vĩnh viễn khơi lên, nghĩ tới nỗi sợ không còn thời gian tự do, nghĩ tới những mối tương quan tính toán thiệt hơn, người ta băn khoăn liệu chúng có bù đắp được sự cô đơn, có được một sự bao bọc chở che, hay được phục vụ thế nào đó hay không. Người ta chuyển đổi cách sống các quan hệ tình cảm giữa con người  thành thái độ sống như khi ứng xử với các đồ vật và môi trường, đó là xem mọi sự đều có thể vứt bỏ, mỗi người dùng xong rồi bỏ, mua và hủy, khai thác và vắt kiệt. Rồi thì chia tay!" (AL 39).

Hiển nhiên, tất cả các điều trên làm cho giới trẻ chán ngán trước việc lập gia đình, họ sợ thất bại như các người đã chọn kết hôn trước mình. Theo nghĩa này, Gia đình Nadarét là một ngọn đèn pha, không phải chỉ là lý tưởng nhưng có thật, bởi vì Gia đình này cũng thế, trải qua những mâu thuẫn và những chuyện phi lý của những thăng trầm của cuộc sống, chỉ cho mọi thế hệ thấy "niềm vui của tình yêu" (AL 1) sống giữa tổ ấm gia đình.

Vì lẽ ấy Đức Thánh Cha quả quyết mạnh mẽ: "Giao ước tình yêu và trung thành được Thánh Gia Nadarét sống, soi sáng nguyên tắc định hình cho mọi gia đình, và giúp gia đình có thể đương đầu tốt hơn với những thăng trầm của cuộc sống và của lịch sử. Trên nền tàng này, mỗi gia đình, dù trong yếu đuối, có thể trở thành một ánh sáng giữa đêm tối của thế giới. Nơi đây chúng ta hiểu cách sống trong ngia đình. Ước gì Nadarét dạy cho chúng ta biết thế nào là gia đình, sự hiệp thông tình yêu, vẻ đẹp đơn sơ và giản dị, tính cách thánh thiêng và bất khả xâm phạm của gia đình; chúng ta hãy học đòi nơi Nadarét để biết cách thức đào tạo ngọt ngào và không gì thay thế được; hãy học cho biết thế nào vai trò tiên quyết của gia đình trên bình diện xã hội". (AL 66)

Chúng ta muốn học tập để trở nên một gia đình? Vậy hãy bỏ đi mẫu gia đình lý tưởng trong đầu chúng ta mà nhìn vào Thánh Gia thất đang chỉ cho mọi người thấy các biến cố gay cấn trong cuộc sống là một nguồn suối bất tận của ân sủng và thánh hóa cho toàn thế giới.

                                                           Trong gia đình

Hãy suy nghĩ

1. Nói "Khủng hoảng gia đình có thể trở thành nguồn mạch bất tận của ân sủng" nghĩa là gì?

2. Theo anh chị, tính độc nhất vô nhị của thiên chức làm mẹ hay làm cha là gì ?

Hãy sống

1. Hiển nhiên cuộc sống hôn nhân và gia đình của anh chị không thiếu những khó khăn, những vấn đề, những cái được gọi là "khủng hoảng".  Vậy anh chị đã đương đầu với chúng như thế nào? Ngược lại, dưới ánh sáng của bài giáo lý anh chị đã suy niệm trên đây, lẽ ra anh chị phải đương đầu như thế nào?

2. Anh/Chị đã sống thiên chức làm cha hay làm mẹ trong tương quan với người bạn đời Chúa đặt bên cạnh mình như thế nào? Làm sao cho con cái của anh/chị cảm nghiệm được quan hệ tương liên giữa người cha và người mẹ?

                                                         Trong Hội thánh

Hãy suy nghĩ :

1. Tại sao trước nền văn hóa chủ trương tạm bợ, vẻ đẹp của nền văn hóa tình yêu "mãi mãi" khó lôi cuốn?

2. Làm sao tính cách là Cha của Thiên Chúa là nền tảng của mọi thiên chức làm cha làm mẹ  dưới đất này?

Hãy sống

1.Đối diện với vô số khủng hoảng thường xảy ra, một cộng đoàn Hội thánh phải tương tác như thế nào? Cộng đoàn được kêu gọi cống hiến theo cung cách nào, những phương pháp nào, những phương tiện nào, những không gian hay những khả thể nào khác?

2. Làm cha và làm mẹ là sứ mạng khó khăn và phức tạp nhất. Hội thánh được kêu gọi đóng góp cho sứ vụ đặc thù và duy nhất này như thế nào?

-------------------------------------------------

 Tin Vui chuyển ngữ; biên tập ngày 10/5/2018 
 

Bảy Bài Giáo Lý của Đại Hội Gia Đình Thế Giới 2018: Bài 2. Gia Đình Dưới Ánh Sáng Lời Chúa

BÀI GIÁO LÝ 2: GIA ĐÌNH DƯỚI ÁNH SÁNG LỜI CHÚA

     “Hằng năm, cha mẹ Đức Giêsu lên Giêrusalem mừng lễ Vượt Qua” (Luca 2, 41).

Lạy Đức Mẹ, xin đến giúp lòng tin của chúng con!

Xin mở tai chúng con lắng nghe Lời, 

để nhận ra tiếng nói của Thiên Chúa và lời Ngài kêu gọi.

Xin khơi dậy trong chúng con ước muốn bước theo chân Chúa,

 nhờ đi ra khỏi vùng đất của mình và đón nhận lời Ngài hứa.

Xin giúp chúng con để cho tình yêu Chúa chạm đến chúng con,

hầu chúng con có thể chạm đến Người nhờ lòng tin.

Xin giúp chúng con hoàn toàn trông cậy vào Ngài, tin vào tình yêu của Ngài,

nhất là trong những lúc gian nan, khi vác thập giá,

khi lòng tin của chúng con được kêu gọi trưởng thành.

Xin Mẹ gieo vào lòng chúng con niềm vui của Đấng Phục Sinh.

Xin  nhắc chúng con  nhớ rằng ai tin, sẽ chẳng bao giờ cô đơn.

Xin dạy chúng con biết nhìn với đôi mắt của Chúa Giêsu,

để Người là ánh sáng soi đường chúng con đi.

Và ước gì ánh sáng đức tin này luôn lớn mãi trong chúng con

cho đến khi ngày không lụi tàn ấy đến,

 chính là Đức Kitô, Con Mẹ, Chúa chúng con.Amen

(ĐTC Phanxicô, Thông điệp Ánh sáng Đức tin   29.6.2013)

            Bức ảnh thánh làm nền cho các bài giáo lý này cho chúng ta thấy ngay bề dầy đức tin của Thánh Gia Nadarét. Như có thể đọc trong Tin Mừng theo Thánh Luca, hàng năm, đúng vào lễ Vượt Qua, Thánh Giuse và Mẹ Maria với Chúa Giêsu lên Đền Thờ Giêrusalem để cùng nhau chu toàn hành động đức tin của mình. Chúng ta chứng kiến một gia đình gồm mọi thành viên, là cha, mẹ và con, cùng nhau thực hiện một chuyến đi xa, với đủ thứ bất tiện và bất ưng của thời đại, (quả thật như thế, vì trên đường về, Chúa Giêsu bị thất lạc), để họp mừng tạ ơn Thiên Chúa về biến cố Vượt Qua : Thiên Chúa đã giải phóng dân Israen ra khỏi ách nô lệ Ai cập.

Khi tưởng niệm tình thương cứu độ của Thiên Chúa, Thánh Gia thất đã làm cho Thiên Chúa sống động trong hiện tại, nhắm đến một tương lai trong đó Thiên Chúa trung tín sẽ hoàn tất mỹ mãn Lời hứa của Ngài.

Cuộc hành hương của Thánh Gia thất không chỉ là một việc làm đạo đức và tôn giáo đơn thuần theo truyền thống dân tộc. Chắc chắn đây không phải là điều mới mẻ khi mọi thành viên của gia đình có mặt đầy đủ để tham dự những ngày lễ tôn giáo vốn lôi cuốn sự chú ý của toàn thể các cộng đồng, giống như dịp lễ bổn mạng hay những hoạt động tôn giáo đặc thù của một số nền văn hóa, hay các thời điểm quan trọng trong năm phụng vụ, nhất là lễ Giáng Sinh, Tuần Thánh và lễ Phục Sinh.  Việc cử hành được Thánh Gia thất thực hiện không chỉ là việc làm truyền thống, nhưng là một điều cho thấy một “hậu cảnh” quan trọng  mà chúng ta có thể biết  qua các bài tường thuật của Tin Mừng trước đó. Đức Maria cũng như thánh Giuse, cả hai được Lời Chúa từ trời cao kêu gọi, cách bất ngờ và đáng kinh ngạc, và các ngài đã đáp lại bằng niềm tin.

Khi đọc lướt  bài tường thuật liên quan đên Đức Maria theo Tin Mừng thánh Luca, và bài tường thuật liên quan đến thánh Giuse theo Tin mừng thánh Matthêu, người ta không  luôn thấy được niềm tin gắn bó hoàn toàn vào dự phóng mầu nhiệm của Thiên Chúa. Chúng ta thường xem việc sứ thần hiện ra với Đức Maria, trong ngôi nhà  Nadarét, và với thánh Giuse trong giấc mộng, như là  điều phải có và đương nhiên, nghĩ rằng việc các ngài ưng thuận là chuyện bình thường. Thật ra, hai câu chuyện của Tin mừng muốn truyền đạt một cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa và lời kêu gọi tiếp theo được bao trùm trong một mầu nhiệm thật sâu thẳm không lời nào diễn tả được.

Thánh Luca không thật sự nói đến “việc hiện ra”, nhưng dùng từ ngữ “ đi vào nhà bà ” (Lc 1,28), trong khi Thánh Matthêu, tuy viết là “ một  sứ thần Chúa hiện ra báo mộng cho ông ” (Mt 1,20) cho thấy một cuộc thần hiện không hiển nhiên như với Đức Maria, bởi vì xảy ra trong giấc mộng. Sứ điệp chính  hai thánh sử nêu lên không phải là chuyện người ta gọi là “thần hiện”, nhưng là Lời Thiên Chúa chất vấn lòng Đức Maria và thánh Giuse, để các ngài  đáp lời  cách trọn vẹn, là điều sẽ đánh dấu trọn cuộc đời các ngài. Đây là Lời  truyền đạt, báo cho hai ngài biết về những biến cố mới, lạ thường và bất ngờ, song chủ yếu  Lời ấy muốn  tạo nên  một tương quan với con người được chất vấn.  Thiên Chúa chuyển đến cho cả hai cùng một Lời:“Đừng sợ!” (Lc 1, 30; Mt 1, 20).

ĐTC Phanxicô trong Tông huấn Amoris Laetitia soi sáng cho chúng ta điều này : “ Lời Chúa không được mạc khải như một chuỗi luận đề trừu tượng, mà như một người bạn đồng hành an ủi ngay cả các gia đình đang gặp khủng hoảng hay đang trải qua đau khổ nào đó, và chỉ cho  thấy đích đến của cuộc hành trình, khi Thiên Chúa “sẽ lau sạch nước mắt họ, sẽ không còn sự chết, cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và  đau khổ  nữa”. (Kh 21,4)  (AL 22).

Nếu Mẹ Maria và thánh Giuse hàng năm lên Đền thờ Giêrusalem dự lễ Vượt Qua, lòng sẵn sàng đón nhận những hy sinh và bất ưng thường xảy ra trong những hành trình như thế thời bấy giờ, và cùng mang theo mình Chúa Giêsu, đó là vì các ngài tiếp tục trải nghiệm Lời Thiên Chúa trong cuộc sống mỗi ngày. Toàn bộ lịch sử cuộc đời các ngài là một tấm vải được dệt nên bởi cùng một sợi chỉ là Lời Chúa. Chính Lời đã dẫn đưa các ngài sinh hạ Hài Nhi ở hang Bêlem, hoàn thành lời Thánh kinh được ngôn sứ Mikê báo trước: “Phần ngươi, hỡi Bêlem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Israen dân Ta sẽ ra đời.” (Mt 2,6). Cũng chính Lời này mời gọi các ngài trốn sang Ai cập để cứu hài nhi khỏi tay vua Hêrôđê (Mt 2, 13); lại cũng là Lời đã làm cho các ngài trở về đất Israen khi vua Hêrôđê băng hà. (Mt 2, 19-23). Thánh Gia thất, qua các thăng trầm trong đời sống, dạy cho mọi người chúng ta biết rằng Lời Thiên Chúa không nhằm truyền đạt những chân lý tôn giáo, một bài giáo lý hay một giáo huấn gồm những qui tắc đạo đức phải thực hành. Lời Chúa là một tương quan sống động và sâu xa với Thiên Chúa, là Đấng trở thành lịch sử trong đời sống của từng gia đình. Vì thế gia đình thật sự là địa điểm nguyên thủy để thông truyền các tường thuật kinh nghiệm về Lời Thiên Chúa.

 Chính ĐTC Phanxicô nhắc lại điều này:“Thánh Kinh cũng trình bày gia đình như nơi con cái được dưỡng dục trong đức tin. Điều này thấy rất rõ trong lời mô tả việc cử hành lễ Vượt Qua (xem Xh 12:26-27; Đnl 6:20-25) và sau đó sẽ xuất hiện cách rõ ràng hơn trong nghi thức Haggadah của người Do Thái, tức là tường thuật dưới dạng đối thoại đi liền với nghi thức Bữa ăn Vượt Qua. Hơn nữa, một Thánh Vịnh ca ngợi việc công bố đức tin trong gia đình như sau: “Ðiều chúng tôi đã từng nghe biết do cha ông thuật lại cho chúng tôi, chúng tôi sẽ không giấu giếm gì với con cháu cả, sẽ thuật lại cho hậu thế, những danh hiệu của Đức Chúa và uy lực của Người, những kỳ công Người đã làm ra. Người đã thiết lập chứng cứ nơi nhà Giacóp, định ra lề luật cho Israen, Người đã truyền cho tổ tiên chúng tôi phải truyền lại cho con cháu các cụ được tường, hầu thế hệ tương lai kẻ hậu sinh cũng biết, để mai ngày đến lượt thuật lại cho con cháu chúng” (Tv 78:3-6). Như thế, gia đình là nơi cha mẹ trở nên những người thầy đầu tiên về đức tin cho con cái. Đây là một công việc thủ công, được áp dụng cho từng con người:“Ngày mai con các ngươi có hỏi… Thì ngươi sẽ nói với nó…” (Xh 13:14).    (AL 16).

Chúng ta quá quen giản lược việc thông truyền đức tin vào việc giảng dạy các qui tắc, các chân lý, những thực hành tôn giáo đến nỗi quên rằng đức tin là một kinh nghiệm sống động và cụ thể về Thiên Chúa. Song nếu kinh nghiệm này không được sống và trở thành xương thịt trong bốn bức tường của ngôi nhà mình sống, niềm tin Kitô giáo khi ấy chỉ còn là việc thực hiện một hành vi nghi thức tôn giáo đơn thuần trong những nhà thờ của chúng ta, và không  ảnh hưởng bao nhiêu đến cuộc sống thật hàng ngày. Người ta quá thường nghe than phiền rằng giới trẻ ngày nay, một khi đã học xong chương trình giáo lý và được lãnh nhận các bí tích, thường không còn lui tới giáo xứ, cũng không đến nhà thờ tham dự các lễ nghi phụng vụ hay các ngày “lễ buộc” Giáng sinh và Phục Sinh. Chẳng mấy ai chịu tự hỏi làm sao một thiếu niên còn ao ước đến nhà thờ nếu sau đó nó không cảm nghiệm được tính chất cụ thể của Lời Chúa trong gia đình và trong cuộc sống hằng ngày. Do đó, cấp thiết phải thay đổi thái độ và bắt đầu lại từ số không, như thể phải loan báo Chúa Giêsu Kitô lần đầu. ĐTC Phanxicô nhấn mạnh cách chính đáng rất nhiều điểm này: “Trước và ngay giữa các gia đình, lời loan báo tiên khởi (kerygma) phải luôn được vang lên cách mới mẻ; đó là lời “đẹp nhất, trổi vượt nhất, hấp dẫn nhất và đồng thời cần thiết nhất”, và “phải chiếm vị trí trung tâm trong toàn bộ hoạt động loan báo Tin mừng”. Đây là lời loan báo chính yếu và quan trọng nhất, “chúng ta phải nghe đi nghe lại bằng nhiều cách khác nhau, và phải luôn loan báo khi dạy giáo lý dưới hình thức này hay hình thức khác”. Bởi vì, “không có gì vững chắc, thâm sâu, bảo đảm, súc tích và khôn ngoan hơn lời loan báo ấy”, và “toàn bộ công cuộc huấn luyện đức tin trước hết là đi sâu hơn vào trong lời rao giảng tiên khởi này.” ( AL 58)

Ngày nay làm sao công bố lời rao giảng tiên khởi (kerygma)? Thánh Giuse và Mẹ Maria, một lần nữa, chuẩn bị con đường cho chúng ta. Các ngài lên Giêrusalem không phải để tham dự bất cứ cuộc lễ nào, nhưng lả để họp mừng cuộc Vượt Qua, mà đây không chỉ là cuộc lễ quan trọng nhất đối với dân Israen, do ý nghĩa của lễ ấy, nhưng chính là một ngày lễ thật sự chạm đến cuộc sống cụ thể của con người. Nói cách khác, cha mẹ Đức Giêsu đã trải nghiệm cuộc Vượt Qua trong các biến cố đời mình. Lễ ấy không chỉ là nhớ lại quá khứ, không chỉ là cử hành một nghi thức, song là một kinh nghiệm sống động về sự chết và phục sinh trong cuộc sống của mình. Hiển nhiên, các ngài hoàn toàn không biết, không ý thức gì về cuộc Vượt Qua của Đức Giêsu, con mình, nhưng chúng ta biết rằng người viết các tường thuật Tin Mừng luôn khởi đi từ lời rao giảng tiên khởi, lời công bố nền tảng về cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô, để rồi kể lại tất cả các giai đoạn khác dưói ánh sáng của biến cố ấy. Đức Maria và thánh Giuse sống trong gia đình mình theo các chuyển động của Lời Chúa, bởi vì các ngài đã hoàn toàn hòa theo việc họp mừng cuộc Vượt Qua. Cũng theo một cách thức ấy, Lời Thiên Chúa trở thành xương thịt trong từng “ Giáo hội tại gia” duy bằng cách sống mầu nhiệm Vượt qua trong cuộc sống gia đình; hay đúng hơn, chính cuộc Vượt Qua của Đức Kitô đem lại hương vị gia đình cho các tổ ấm gia đình chúng ta. Lễ Vượt Qua không phải là một ý tưởng hay một chân lý, một tin tức phải loan báo cho các gia đình. Lễ Vượt Qua ấy đã hiện diện trong từng gia đình từ ngày họ cử hành Bí tích Hôn phối. Bí tích Hôn phối của họ là sự hiện tại hóa mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô đang sống và hoạt động trong tương quan yêu thương của họ. Thử hỏi có bao nhiêu cặp vợ chồng Kitô hữu biết được sự thật lạ thường này? Có bao nhiêu người biết được cuộc sống hôn nhân và gia đình của mình, do ân sủng kết hợp của Bí tích Hôn phối mang lại, là một cử hành Lễ Vượt Qua vĩnh cửu? Có bao nhiêu người trong số họ đã được giãi bày cho biết rằng tất cả mọi chuyện thương đau, sầu khổ, tang chế đều tháp nhập vào cái lý của mầu nhiệm Vượt Qua, cái lý khiến cho không có câu chuyện nào đau đớn hơn mà không luôn luôn là một lời tiên báo và một khúc dạo đầu cho một sự phục sinh lạ thường? Nếu không ai lấy Lời Chúa soi sáng cho họ, thì ai bao giờ có thể ngước mắt lên và nhận ra Mầu nhiệm Cao cả ẩn náu trong xương thịt họ? Đó là lý do “các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng cũng nhấn mạnh rằng “Lời Chúa là nguồn mạch sự sống và linh đạo cho gia đình. Mọi mục vụ gia đình phải được định hình từ bên trong và huấn luyện các thành viên của Hội thánh tại gia bằng cách đọc Kinh thánh và cầu nguyện theo hướng dẫn của Hội thánh. Lời Chúa không chỉ là Tin Mừng cho đời sống riêng tư của cá nhân, mà còn là tiêu chuẩn đánh giá và là ánh sáng giúp phân định những thách đố khác nhau mà các đôi vợ chồng và gia đình gặp phải.” (AL 227)

Để các gia đình chúng ta trở nên đúng với bản chất bí tích của mình, cần thiết phải có một thứ mục vụ thông thường tích cực đi theo hướng này. Đây là một việc làm mang tính thủ công đòi hỏi những chăm chút từng ngày, dọn đường cho một linh đạo chân thật cho hôn nhân và gia đình. Sự đóng góp và nâng đỡ của các mục tử lúc đó trở nên quí báu vì các ngài được kêu gọi “ khuyến khích các gia đình lớn lên trong đức tin. Vì thế, tốt nhất là khuyên họ thường xuyên xưng tội, thực hành linh hướng, thỉnh thoảng tham dự các cuộc tĩnh tâm. Nhưng đừng quên mời gọi gia đình dành thời gian hàng tuần cùng nhau cầu nguyện, bởi vì “gia đình hiệp nhau cầu nguyện thì hiệp nhất bên nhau.” Cũng vậy, khi đi thăm các gia đình, nên mời gọi mọi thành viên trong gia đình qui tụ lại và cầu nguyện cho nhau trong chốc lát và phó dâng gia đình trong tay Chúa. Đồng thời cũng nên khích lệ vợ chồng tìm thời giờ cầu nguyện một mình với Thiên Chúa, vì mỗi người có những thập giá phải âm thầm vác. Tại sao không nói với Chúa về những gì làm mình lo lắng, hoặc kêu xin Người ban sức mạnh chữa lành các vết thương và khẩn nài ban cho ánh  sáng cần thiết để mình  có thể đáp ứng sự dấn thân của mình ?“ (AL 227).

Thay vì dạy dỗ, hướng dẫn hay giáo dục, ĐTC Phanxicô nhiều lần nói đến việc  “khích lệ” vì Ngài biết nghệ thuật của người thầy đích thật không chỉ là biết cách dạy dỗ nhưng nhất là biết đem lại sức mạnh trước những khó khăn và  truyền đạt với con tim hơn là bằng lý trí điều mình muốn đem lại cho người khác. ĐTC hoàn toàn ý thức rằng, để lập gia đình, người ta cần nhiều can đảm, và chính ngài rất ngạc nhiên (như ngài đã viết ở phần đầu tông huấn AL) khi thấy “mặc dầu vẫn có nhiều dấu chỉ cho thấy có khủng hoảng trong đời sống  hôn nhân, khát vọng có được một mái ấm gia đình vẫn còn rất mạnh mẽ, đặc biệt nơi những người trẻ, và vẫn đang là cảm hứng của Hội thánh.”(AL 1)

Cầu nguyện thật không dễ dàng và đương nhiên trước một thảm cảnh gia đình, như cái chết đau đớn của một đứa con, sự ra đi sớm của người bạn đời, cảnh mất công ăn việc làm, hay một khủng hoảng trầm trọng giữa hai vợ chồng. Nếu chúng ta không đi vào trong cái lý của mầu nhiệm Vượt Qua luôn sống động và hoạt động trong từng cuộc hôn nhân, các giáo huấn chỉ là những lời  dễ dàng vụt mất trước một cơn gió nhẹ. Lúc đó cần nhiều sự khích lệ, nhưng cũng cần có những chứng từ cụ thể mở đường và chỉ cho thấy mọi sự đều có thể trong Đức Kitô chết và phục sinh.  Chúng ta có thể tìm ở đâu một chứng từ tốt đẹp hơn Thánh Gia Nadarét. Các gia đình “ như Mẹ Maria, được khuyên nhủ cần phải can đảm và thanh thản đối diện với những thách đố trong gia đình, buồn đau cũng như phấn khởi, và giữ gìn cũng như suy niệm  trong lòng những việc  kỳ diệu  Thiên Chúa đã làm (x. Luca 2, 19.51). Trong kho báu trái tim của Mẹ Maria, cũng chất chứa tất cả mọi biến cố của các gia đình chúng ta, những biến cố mà Mẹ vẫn ân cần gìn giữ. Bởi thế Mẹ có thể giúp chúng ta hiểu ý nghĩa của những biến cố đó để nhận ra được sứ điệp Thiên Chúa gởi đến trong lịch sử của gia đình mình”. ..(AL 30)

Cho nên, Lời Chúa đem lại cho từng gia đình một sự khôn ngoan để sống và một ánh sáng cần thiết để hiểu ra được từng biến cố của gia đình, lớn hay nhỏ, và nhờ vậy, nếm trước được hương vị của Tiệc Cưới Vĩnh Cửu mà mỗi gia đình được mời gọi từ muôn thuở.

 

Trong gia đình

Hãy suy nghĩ

1. Tại sao trong các gia đình chúng ta, Lời Chúa thường bị xem như  một điều xa lạ, thuần túy đạo giáo và không thể hiểu được? Đâu là những nguyên nhân và đâu là phương cách giải quyết?

2. Trong những thời điểm khó khăn sâu xa và khủng hoảng trầm trọng, hiếm khi thấy một gia đình quay về tìm kiếm ánh sáng và sự nâng đỡ nơi Lời Chúa. Chuyện gì đã xảy ra và chúng ta có thể làm gì?

 

Hãy sống

1. Trong gia đình anh chị, đã có những biến cố nào xảy ra cho thấy Lời Chúa thật sự đã ăn sâu trong gia đình anh chị? Xin kể lại.

2. Hãy họp mừng mầu nhiệm Phục Sinh trong gia đình nếu anh chị thật sự sống mầu nhiệm ấy. Đem lại hương vị Phục Sinh cho các biến cố gia đình, đó là như nếm rượu ngon của tiệc cưới Cana. Theo ánh sáng của bài giáo lý, anh chị có khi nào trải nghiệm mầu nhiệm Phục Sinh sống động và cụ thể trong mái ấm của mình chưa?

Trong Hội thánh

Hãy suy nghĩ

1. Nếu “Kinh thánh đề cập rất phong phú về gia đình” (AL 8), như Đức Thánh Cha Phanxicô nói, vậy tại sao nhiều gia đình ngày nay vẫn xem Kinh thánh như một pho sách trừu tượng và xa lạ? Vậy thứ mục vụ nào, hoặc, đúng hơn, thứ linh đạo nào đã thiếu vắng trong các cộng đoàn chúng ta?

2. Chúng ta ngày chứng kiến anh chị em công giáo ngày càng ít tham dự các nghi lễ phụng vụ, và thường dừng lại ở dấu chỉ bên ngoài này, đó chính là triêu chứng của một tình trạng ‘có vấn đề’ một cách sâu xa. Hội thánh có thể hay phải đối phó với tình trạng này bằng cách nào?

Hãy sống

1. Chúng ta phải làm thế nào để Kinh thánh không chỉ được đọc không thôi  trong các gia đình nhưng còn trở thành ánh sáng đích thật cho các gia đình?

2. Phải chăng chúng ta chỉ bận tâm cử hành mầu nhiệm Vượt Qua trong Nhà thờ hơn là giúp các gia đình sống mầu nhiệm ấy tại gia?  Có thể đề nghị làm gì để thay đổi não trạng này?

Tin Vui chuyền ngữ
Ngu
ồn: ubmvgiadinh.org

 
by-bi-gio-l-ca-i-hi-gia-nh-th-gii-2018-bi-3-gic-m-v-i-ca-thin-cha
Bảy Bài Giáo Lý của Đại Hội Gia Đình Thế Giới 2018: Bài 3. Giấc Mơ Vĩ Đại Của Thiên Chúa

Đức Thánh Cha Phanxicô quả quyết như vậy: “Mọi con trẻ hình thành trong lòng mẹ đều bởi ý định và tình yêu muôn thuở của Thiên Chúa Cha : “Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hóa ngươi” (Gr 1, 5). Mỗi đứa trẻ tự muôn đời đã có một chỗ ở trong trái tim Thiên Chúa, và vào chính lúc nó được thụ thai là lúc giấc mơ vĩnh cửu của Đấng Tạo Hóa trở thành hiện thực. Chúng ta hãy nghĩ đến giá trị của cái bào thai từ giây phút bắt đầu được hình thành! Cần phải nhìn nó bằng chính ánh nhìn yêu thương của Chúa Cha, vượt trên mọi dáng vẻ bên ngoài”(AL 168).

-cu-nguyn-ca-c-thnh-cha-trong-thng-092018-cu-nguyn-cho-gii-tr-phi-chu-c-gio-dc-v-c-vic-lm-
Ý cầu nguyện của Đức Thánh Cha trong tháng 09/2018: Cầu nguyện cho giới trẻ Phi châu được giáo dục và có việc làm

Trong tháng 9 tới đây ĐTC mời gọi tín hữu công giáo toàn thế giới hiệp ý cầu nguyện cho giới trẻ Phi châu, để họ có được nền giáo dục và công việc làm ăn trong quê hương của họ mà không phải tìm di cư ra nước ngoài. Từ nhiều năm qua, số người Phi châu di cư tỵ nạn gia tăng mạnh, khi nhiều nước Bắc Phi và vùng Trung Đông bị khủng hoảng và rơi vào cảnh nội chiến. Chỉ nội trong năm 2016, Italia đã phải nhận 181.436 người di cư tỵ nạn. Số người chết  trong khi vượt biển năm 2016 là 5.022 người.

suy-t-mc-v-nm-mvg-102018-yu-thng-v-tn-trng-em
Suy tư mục vụ năm MVGĐ 10/2018: “Để Yêu thương và tôn trọng Em…”

Hôn nhân Kitô giáo đặt nền tảng trên sự ưng thuận của đôi bạn. Như Công Đồng Vatican II xác định: “Đấng Tạo Hóa đã thiết lập và ban những qui luật riêng cho cộng đồng của sự sống và tình yêu đầy thân mật giữa đôi vợ chồng. Cuộc sống chung đó được gầy dựng do giao ước hôn nhân, nghĩa là do sự ưng thuận không thể rút lại của từng cá nhân. Như thế, bởi một hành vi nhân linh, trong đó hai vợ chồng tự hiến cho nhau và đón nhận nhau, nhờ sự an bài của Thiên Chúa, phát sinh một định chế bền vững có giá trị ngay cả đối với xã hội” (GS 48).

gia-nh-hip-nht-v-ha-gii-l-gic-m-ca-thin-cha
Gia đình hiệp nhất và hòa giải là giấc mơ của Thiên Chúa

Sứ mệnh của gia đình là góp phần thực hiện giấc mơ của Thiên Chúa là sự hiệp nhất, hòa hợp và hòa bình, hoa trái của lòng trung thành, sự tha thứ và hòa giải. Gia đình Kitô là suối nguồn của ơn thánh liên lỉ giúp cùng nhau tiến bước và thắng vượt nền văn hóa tạm bợ. ĐTC vừa mới công du Ailen về, nên trong bài huấn dụ, ĐTC đã chia sẻ với mọi người một số cảm tưởng trong hai ngày viếng thăm nhân cuộc gặp gỡ quốc tế các gia đình công giáo lần thứ 9.

noi-dung-moi-cua-sach-giao-ly-hoi-thanh-cong-giao-ve-an-tu-hinh-“an-tu-hinh-la-dieu-khong-the-chap-nhan”
Nội dung mới của Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo về án tử hình: “Án tử hình là điều không thể chấp nhận”

Sau buổi yết kiến Đức giáo hoàng Phanxicô hồi đầu năm nay, và sau khi được Đức giáo hoàng phê chuẩn, Bộ Giáo lý đức tin cho biết Bộ đã sửa đổi nội dung giáo lý về án tử hình trong Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo, theo đó án tử hình là điều không thể chấp nhận được. Đức Giáo hoàng Phanxicô đã phê chuẩn nội dung mới của số 2267 trong Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo, theo đó “đã có một hiểu biết mới về ý nghĩa của án phạt hình sự của nhà nước”, nên “án tử hình là điểu không thể chấp nhận”.

y-cau-nguyen-thang-8-2018-gia-dinh-la-kho-bau-cua-nhan-loai
Ý cầu nguyện tháng 8/2018: Gia đình là kho báu của nhân loại

Trong tháng 8 này ĐTC mời gọi chúng ta hiệp ý với tín hữu công giáo toàn thế giới cầu xin cho các lựa chọn kinh tế chính trị che chở các gia đình như kho tàng của nhân loại. Không có gia đình sẽ không có xã hội và các cơ cấu của nó, vì gia đình là tế bào nòng cốt của xã hội. Đây là sư thật hiển nhiên không thể phủ nhận. Thật ra, từ ngàn xưa tới nay gia đình vẫn cố gắng duy trì được vai trò quan trọng này của mình.

Quý độc giả có thể gửi thư cho người quản trị website, đóng góp ý kiến, đưa ra những yêu cầu, thắc mắc...

Quý độc giả có thể email trực tiếp tới kinhthanhvn@gmail.com.



Xin cảm ơn!.

Hỗ trợ & Cung Cấp Website Wsup3

Copyright © 2016 KINHTHANHVN.NET.